Ngọc không chạy theo.

Cô nghe Lạc gào qua đám đông, cô nghe rõ từng chữ, và cô hiểu ngay là nếu bây giờ cô đứng dậy chạy thì cô sẽ chạy về phía cái mà cả mùa đông này cô săn đuổi.

Cô nhìn xuống.

Chị Hằng đang nắm cổ tay cô. Nắm chặt lắm, nắm kiểu người ta nắm khi sợ bị bỏ lại, và mắt chị ấy mở, và chị ấy đang nhìn cô.

"Cô ơi đừng đi," chị Hằng nói.

Ngọc ngồi xuống lại.

"Tôi không đi đâu," cô nói.

Cô cởi cái áo len ngoài của mình ra, gấp lại, kê xuống dưới đầu chị Hằng. Cô đưa tay lau mấy sợi tóc dính trên má chị ấy. Cô nắm lại cái bàn tay đang nắm mình.

"Chị nhìn tôi," cô nói. "Chị đọc tên chị cho tôi nghe một lần nữa."

"Đỗ Thị Hằng."

"Nữa."

"Đỗ Thị Hằng, Yên Mô, Ninh Bình."

"Đúng rồi," Ngọc nói. "Chị cứ đọc thế. Đọc đến lúc xe cấp cứu tới thì thôi."

Và cô ngồi ở đấy, giữa sân đền, giữa hai nghìn con người vừa gọi đúng một cái tên, và cô để cho cái thứ cô săn suốt bốn mươi ngày chạy mất.

Cái đi dưới đất ấy đi rất nhanh.

Lạc quỳ trên nền gạch góc đông bắc, cả hai bàn tay áp xuống, và anh theo nó bằng cái duy nhất anh có: cái rễ.

Nó ra khỏi sân đền theo đúng cái mạch đã đi qua đây chín trăm sáu mươi năm, cái mạch từ phía hồ xuống, và nó đi ngược lên.

Và ở khoảng giữa, ở chỗ dưới lòng phố Kim Mã, có một cái gì đó chặn nó lại.

Lạc kể lại chuyện ấy sau này nhiều lần, và lần nào anh cũng kể giống nhau, và lần nào anh cũng bảo là anh không diễn tả được.

Anh bảo: giống như đang nghe một con chuột chạy trong tường thì có ai đó đặt cả bàn tay lên bức tường.

Trong gian giữa đền Voi Phục, cái gì đó cựa mình lần thứ hai.

Người ở gần cổng bảo là họ thấy hai con voi đá rung. Người ở giữa sân bảo là không, chỉ có gió. Ông chủ tế thì suốt bốn mươi mốt năm sau đó không kể lại với ai chuyện ấy cả, và cụ chỉ nói đúng một câu với con trai cụ trước khi cụ mất: ngày hôm ấy ngài có ra.

Vọng, đứng ở gốc muỗm phía tây, là người duy nhất nghe được.

Anh không nghe bằng tai. Anh nghe theo cái cách anh vẫn nghe suốt hai mươi năm, và cái anh nghe được thì anh chép lại vào sổ ngay chiều hôm ấy, vì anh sợ để lâu thì chữ nó mòn đi.

Anh chép thế này.

Cái ở dưới đất dừng lại.

Nó dừng vì nó không đi qua được, và nó biết là nó không đi qua được, và trong cái khoảnh khắc bị chặn ấy nó làm cái việc cuối cùng nó còn làm được: nó thử.

Nó thử mặc.

Nó đã đi vòng quanh cái đền này ba năm. Nó đã đo. Nó đã khoét hai mươi mốt cái làng trên đường đi tới. Nó đã làm sẵn một tờ giấy sắc để trống nằm trên lụa đỏ dưới một tầng hầm. Cả một cuộc đời đi mượn thân, và đây là cái thân nó thèm nhất: một vị thần có tên, có đền, có ngày, có người gọi.

Nó với lên.

Và cái lốt ấy chật.

Vọng chép rằng anh nghe được tiếng vải rách.

Anh viết là anh không biết gọi thế nào khác. Không phải tiếng thịt, không phải tiếng xương. Là cái tiếng của một người cố nhét mình vào một cái áo bé hơn mình bốn số, và cái áo ấy toạc ra ở đường chỉ.

Rồi anh nghe một giọng nói.

Anh chép nguyên văn, và anh ghi chú bên lề rằng anh không chắc mình nghe đúng, và rằng cái giọng ấy không giống giọng người, nó giống tiếng nước đi qua một cái cống đá.

Mày mặc không vừa đâu.

Cái ở dưới đất nói lại một câu gì đó. Vọng không nghe được câu ấy.

Ta biết, cái giọng kia nói. Ta biết mày định nói gì. Mày định nói là ta cũng thế.

Mày nói đúng. Ta cũng từng bị người ta khoác cho một cái tên không phải của ta. Ta ở cái khúc sông này từ trước khi có kinh thành. Rồi người ta phong ta làm hoàng tử, người ta cho ta một ông bố làm vua, người ta chép ta vào sách, người ta bảo ta chết ở sông Như Nguyệt.

Vọng chép rằng đến đây thì cái giọng ấy dừng lại một lúc.

Nhưng mày với ta khác nhau một chỗ, và cái chỗ ấy là tất cả.

Người ta khoác cho ta cái tên ấy vì người ta thương ta. Rồi người ta gọi ta bằng cái tên ấy chín trăm sáu mươi năm, năm nào cũng gọi, ba ngày liền, cả vùng cùng gọi. Đến bây giờ thì cái tên ấy là của ta thật, vì có ngần ấy người đã bỏ ngần ấy năm ra để làm cho nó thành thật.

Còn mày thì mượn. Mượn xong trả. Mượn cái khác. Không có ai bỏ ra một ngày nào cho mày cả.

Rồi cái giọng ấy nói câu cuối, và Vọng chép nó xong thì phải ngồi xuống gốc muỗm một lúc lâu.

Cái làm cho một cái tên thành của mình không phải là mặc nó. Là có người chịu gọi nó lâu.

Cái ở dưới đất bị đẩy ra.

Lạc bảo nó không bị đánh. Anh bảo nó bị đẩy, cái kiểu người lớn đẩy một đứa trẻ ra khỏi chỗ nguy hiểm, không giận dữ, không thù, chỉ dứt khoát.

Nó lùi, nó chạy, và nó chạy về phía tây bắc, theo cái mạch nước, đi ngược lên phía hồ.

Lạc theo nó được thêm ba trăm mét.

Rồi mất.

Anh ngồi bệt trên nền gạch, hai tay còn áp xuống đất, thở dốc.

"Nó xuống nước rồi," anh nói với không ai cả.

Xe cấp cứu tới lúc mười giờ bốn mươi.

Chị Hằng được đưa đi, và Ngọc đi theo, và ở cửa xe cô ngoái lại nhìn cái sân đền một lần.

Cái sân ấy vẫn đầy người. Đội tế đã vào tuần rượu thứ hai. Trống hội lại nổi. Có mấy đứa trẻ con đang chạy quanh gốc muỗm, đứa nào cũng cầm một cái bóng bay.

Hai nghìn con người ở đấy, trong vòng một tiếng đồng hồ, đã quỳ lạy một con cáo, rồi đứng lên, rồi gọi đúng tên vị thần của mình, và bây giờ họ đang đi lễ như mọi năm.

Đến sang năm thì phần lớn trong số họ sẽ kể lại chuyện sáng nay theo mười lăm kiểu khác nhau, và phần lớn các kiểu ấy sẽ sai.

Ngọc nhìn cái sân ấy và cô không thấy cay đắng.

Cô nghĩ tới cái câu Vọng sẽ đọc cho cô nghe tối hôm ấy, cái câu anh chép được dưới gốc muỗm, cái câu mà lúc này cô chưa biết.

Cô chỉ nghĩ một ý rất đơn giản, cái ý mà sau này cô sẽ mang đi suốt mười hai tháng tiếp theo:

Người ta gọi đúng được. Chỉ cần có ai đứng ra bảo họ tên là gì.

Ba giờ chiều, đài phát thanh Hà Nội đưa một mẩu tin ngắn trong bản tin địa phương.

Mực nước Hồ Tây sáng nay ghi nhận hạ thấp bất thường khoảng bốn mươi phân so với ngày thường. Cơ quan chức năng đang kiểm tra hệ thống cống điều tiết. Người dân được khuyến cáo không xuống khu vực bùn lộ ven bờ.

Thư nghe cái tin ấy trong lúc ngồi ở hành lang bệnh viện chờ Ngọc.

Con bé lấy sổ ra, ghi một dòng, rồi ngồi nhìn cái dòng ấy rất lâu.

11.2 âm. Hồ Tây rút 40cm. Nó không chết. Nó về nhà.

Chú thích

1. Việc đồng nhất Linh Lang Đại vương với hoàng tử Hoằng Chân con vua Lý Thánh Tông là thần tích phổ biến, không phải kết luận sử học đã ngã ngũ; nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ cùng thờ Linh Lang với các thần tích khác nhau, và có ý kiến cho rằng đây vốn là một vị thủy thần bản địa về sau được lịch sử hóa. 2. Hồ Tây trong thư tịch cổ mang nhiều tên qua các thời: đầm Xác Cáo, hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Tây Hồ. Việc các tên này có phải cùng chỉ một mặt nước hay không, và Lãng Bạc trong trận Mã Viện có phải Hồ Tây hôm nay hay không, đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Hết Chương 33
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 34 →
← TrướcTiếp →