Nó không cầm cái chén.

Nó đứng đấy, giữa sân đền, tay còn ôm cái ấm tích, và nó nhìn cái chén nước Ngọc đang chìa ra bằng hai tay.

"Ông tên gì?" Ngọc hỏi lần nữa.

"Cô biết là tôi không có," nó nói.

Nó nói khẽ. Cái giọng trầm vang ban nãy đã mất, và bây giờ nó nói bằng giọng của cái thân nó đang mặc, giọng một người đàn bà hai mươi mấy tuổi.

"Tôi biết," Ngọc nói. "Nên tôi không hỏi cái tên của ông."

Cô hạ cái chén xuống, nhưng cô không rụt tay lại.

"Tôi hỏi cái tên của người này," cô nói.

Cả sân đền im.

Người ta không hiểu. Ngọc biết là người ta không hiểu, và cô không giải thích, vì cô không còn thì giờ và vì cái này không giải thích được cho hai nghìn người trong hai phút.

Cô đặt cái chén xuống nền gạch.

Rồi cô mở cái túi vải trên vai, và cô lấy ra quyển sổ bìa da đã sờn hết bốn góc, gáy khâu chỉ dù xanh.

Cô không mở quyển sổ.

Cô rút ra mấy tờ giấy in gấp làm tư kẹp trong đó, mấy tờ mà Thư đã đưa cô hôm mùng mười, và cô mở ra.

Ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt dòng, in cỡ chữ nhỏ, kín đặc. Bốn mươi mốt dòng tô vàng.

"Ông nghe tôi nói," cô nói với nó. "Đêm ba mươi Tết, ở khắp cái nước này, có ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt người tỉnh dậy."

Nó không nhúc nhích.

"Bốn mươi mốt người trong số ấy, chúng tôi không gọi lại được. Gọi ba lần, bốn lần, không ai nghe máy. Con bé nhà tôi nó tô vàng bốn mươi mốt dòng ấy và nó ghi ba chữ: đã đi khỏi."

Ngọc lật sang trang thứ hai.

"Hôm mùng ba Tết, ông gọi cho con bé ấy. Ông đọc cho nó một cái tên. Nó ghi vào dòng thứ tám trăm mấy chục. Chính ông tự kể với chúng tôi câu ấy ở nhà văn hóa phường hôm mùng năm."

Cô ngẩng lên.

"Ông đọc cho nó cái tên nào?"

Nó lùi lại nửa bước.

Đó là cái đầu tiên trong cả mùa đông ấy mà Ngọc nhìn thấy nó làm: lùi.

"Cô đừng," nó nói.

"Tôi đã đứng ở một cái nhà văn hóa và tôi không có gì để gọi một người," Ngọc nói. "Tôi chôn người ấy ở Thanh Tước. Tôi khắc lên bia bốn chữ, và tôi phải nhờ ông thợ khắc hai lần vì ông ấy tưởng nghe nhầm."

Cô giơ tập giấy lên.

"Tôi không để có lần thứ hai."

Cô cúi xuống tập giấy, và cô đọc.

Cô đọc bốn mươi mốt cái tên.

Cô đọc chậm, rõ, từng cái một, và cứ mỗi cái tên cô lại đọc kèm cái tỉnh, cái tuổi, cái ngày người ta báo lên. Cô đọc như người ta điểm danh. Cô đọc như ông Cẩn đọc văn tế.

Cả sân đền đứng nghe, và không ai hiểu cô đang đọc cái gì, và không ai ngắt cô.

Đến cái tên thứ hai mươi chín thì cái thân người trước mặt cô giật một cái.

Ngọc dừng lại.

Cô đọc lại cái tên ấy.

"Đỗ Thị Hằng, hai mươi bốn tuổi, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Người báo lên là bác ruột. Gọi lại ba lần không được. Đánh dấu ngày mùng bốn Tết."

Cái ấm tích rơi xuống nền gạch và vỡ.

"Chị Hằng ơi," Ngọc nói.

Cô bước lên một bước.

"Chị Hằng ơi, chị nghe tôi nói. Tôi là Ngọc, tôi ở hội Nêu. Đêm ba mươi Tết chị thức dậy, chị sợ, chị gọi cho ai đó, và cái người ấy báo tên chị lên cho chúng tôi."

Cô bước thêm một bước.

"Chúng tôi có tên chị từ mùng bốn Tết. Chúng tôi gọi lại ba lần. Rồi chúng tôi bỏ."

Nước mắt cô chảy xuống.

"Ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt người, chị ạ, mà chúng tôi có bốn mươi ba người đi được. Tôi ngồi ở cái quán của tôi hôm mùng bốn Tết, tôi kéo cái màn hình, và tôi có nhìn thấy dòng của chị. Tôi có nhìn thấy tên chị. Rồi tôi kéo xuống dòng khác."

Cô đứng trước mặt cái thân người ấy, cách một gang tay.

"Tôi xin lỗi chị. Tôi đến muộn bốn mươi ngày."

Cái thân người trước mặt cô bắt đầu run.

Nó run từ hai bàn tay lên, rồi cả người, và cái mặt ấy, cái mặt vẫn là mặt Ngọc suốt từ đầu buổi sáng, bắt đầu đổi.

Nó không đổi thành mặt khác. Nó chỉ thôi giống.

Hai nghìn con người trong cái sân đền ấy nhìn thấy, cùng một lúc, cái mặt của người đàn bà đứng giữa sân từ từ rời khỏi cái mặt của người đàn bà đứng đối diện, như hai tấm ảnh chồng lên nhau bị kéo lệch ra.

Có tiếng kêu. Có người bịt miệng. Có mấy người ngã ngồi xuống.

Và cái người đàn bà đứng giữa sân, bây giờ là một cô gái hai mươi tư tuổi gầy gò mà không ai quen, mở miệng.

"Cô ơi," cô ấy nói.

Giọng cô ấy là giọng con gái, mỏng, khản.

"Cô ơi cháu gọi mãi mà không ai đến."

"Chị Hằng ơi..."

"Cháu ngồi ở bến xe ba ngày," cô gái nói. "Cháu không dám về nhà. Cháu không biết đi đâu."

Ngọc đưa tay ra.

"Chị nắm tay tôi."

Cô gái đưa tay ra.

Ngay khoảnh khắc hai bàn tay ấy chạm nhau, từ trong cái thân người ấy, một cái gì đó thoát ra.

Không phải nước đen. Lần này không có nước, không có mùi bùn.

Là một tiếng thét.

Nó vỡ ra giữa sân đền, và nó là tiếng của rất nhiều người cùng thét, và trong cái tiếng ấy Ngọc nghe được tiếng một cụ già, một đứa trẻ con, một người đàn bà, một thằng bé, và mấy giọng nữa mà cô không kịp đếm.

Cái tiếng ấy chạy khắp sân đền.

Và ở khắp cái sân ấy, ở bốn năm chỗ khác nhau giữa đám đông, có bốn năm người đổ xuống cùng một lúc.

Một bà cụ áo dài nâu ngã giữa lối đi, cái làn nhựa văng ra, hoa đổ.

Một người đàn ông trung niên xách cặp da khuỵu xuống ở gốc muỗm.

Một anh bảo vệ ngã ngửa ngay chỗ cổng.

Bốn cái lốt cuối cùng rụng hết trong hai giây.

Cô gái hai mươi tư tuổi khuỵu xuống, và Ngọc đỡ được.

Cô ấy còn sống. Ngọc sờ thấy mạch ở cổ tay, đập nhanh và yếu, và cô ấy đang thở, và mắt cô ấy vẫn mở.

"Chị ơi chị nhìn tôi," Ngọc nói. "Chị tên gì?"

"Cháu là Hằng," cô gái nói. "Đỗ Thị Hằng."

"Đúng rồi," Ngọc nói. "Đúng rồi chị ạ."

Bà Chắt quỳ xuống bên cạnh, cởi cái áo khoác của bà ra đắp cho cô gái, vừa đắp vừa mắng cả cái sân là đứng nhìn cái gì mà không đi gọi cấp cứu.

Ông Tuấn chạy đi gọi.

Có mấy người đàn bà xúm lại. Có ai đó đưa chai nước. Có một chị dúi vào tay Ngọc một cái áo len nữa.

Và ở bốn góc sân, bốn người khác cũng đang được xúm vào đỡ dậy, và ba trong bốn người ấy đang thở, và một người thì không.

Ngọc ngồi trên nền gạch sân đền Voi Phục sáng mười một tháng Hai, ôm một cô gái mà cô chưa gặp bao giờ, giữa hai nghìn con người.

Cô ngẩng lên tìm.

Cô tìm cái sân tế.

Trên chiếu, ông chủ tế vẫn đứng đấy, tờ văn tế trong tay, và cụ đang nhìn về phía cô.

Cụ giơ tờ giấy lên.

Rồi cụ quay mặt vào gian trong, và cụ cất giọng, và cái giọng tám mươi tuổi ấy khàn nhưng nó đi hết cái sân:

"Cung thỉnh Linh Lang Đại vương."

Tám cụ áo thụng chắp tay.

Và hai nghìn con người ở cái sân đền ấy, những người vừa quỳ nhầm chỗ mười lăm phút trước, đứng thẳng lên và cùng gọi một cái tên.

Cái tên đúng.

Ngọc ngồi dưới đất giữa họ, ôm chị Hằng trong tay, và cô nghe cái tên ấy đi qua đầu mình như một cơn gió nóng.

Trong gian tối phía sau hương án, một cái gì đó rất lớn cựa mình.

Và ở phía ngoài, dưới nền gạch, dưới chân hai nghìn con người, có một cái gì khác rút đi.

Lạc, đứng ở góc đông bắc, ngã khuỵu một bên gối.

Anh áp cả bàn tay xuống nền gạch, và mặt anh trắng bệch.

"Chị Ngọc!" anh gào lên qua đám đông. "Nó chạy! Nó đi dưới đất! Nó về phía hồ!"

Chú thích

1. Trong tín ngưỡng dân gian Việt, việc gọi đúng họ tên, tuổi và quê quán của một người được coi là cách "níu" người ấy lại; mô-típ này lặp lại trong nhiều nghi thức gọi hồn và cầu an ở khắp các vùng. 2. Phần cung thỉnh trong tế lễ là lúc mời vị thần được thờ về dự, và theo lệ phải xưng đủ tước hiệu của ngài.

Hết Chương 32
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 33 →
← TrướcTiếp →