Ông ta len qua ba bước người và đứng cạnh cô, và không ai trong đám đông ấy phải nhường chỗ cho ông ta cả, và Ngọc không nhìn ra ông ta đã len bằng cách nào.
"Cô đi hội à," ông nói.
"Cháu chào bác." Ngọc thấy giọng mình khô. "Bác có ngồi hàng cháu hôm mùng năm Tết."
"Ừ. Trà cô ướp nhài thật."
"Vâng ạ."
Ông đứng cạnh cô, hai tay buông, nhìn ra sân tế như mọi người khác trong cái sân này.
"Đông nhỉ," ông nói.
"Vâng."
"Năm nào cũng đông thế," ông nói. "Từ hồi tôi còn bé đã đông rồi."
Ngọc quay sang nhìn ông.
Ông chừng năm mươi. Da rám, tóc muối tiêu cắt ngắn, cái áo khoác nâu ấy đã bạc ở vai và sờn ở cổ tay. Ông không cầm gì cả. Trong cả cái sân này, giữa mấy nghìn người ai cũng xách một cái gì, một túi lễ, một chai nước, một cái điện thoại, thì ông là người duy nhất tay không.
"Bác ơi," cô nói. "Bác tên gì ạ?"
Ông cười.
Ông không trả lời. Ông chỉ cười, và cái cười ấy hiền, và nó không có vẻ gì là né tránh cả, nó có vẻ như ông thấy câu hỏi ấy buồn cười theo một cái kiểu mà cô chưa hiểu.
"Cô đang lo," ông nói.
"Vâng."
"Lo cái gì?"
Ngọc nhìn ra sân tế. Đội tế đang vào chỗ. Có tiếng người xướng gọi bắt đầu.
"Cháu phải nói với những người này một chuyện," cô nói. "Mà cháu không biết nói thế nào."
"Chuyện gì?"
"Chuyện cháu là ai ạ."
Ông gật gù.
"Khó thật," ông nói.
Ông đứng im một lúc.
"Cô ơi, tôi hỏi cô cái này. Cả đời cô bán nước, đúng không."
"Vâng ạ."
"Cô bán bao nhiêu năm rồi?"
"Từ hồi cháu lên chín cháu đã rửa chén cho bà cháu," Ngọc nói. "Bà cháu mất năm cháu mười chín. Từ đấy thì cháu bán."
"Bảy năm," ông nói. "Bảy năm cô rót nước cho người lạ."
"Vâng."
"Trong bảy năm ấy có bao nhiêu người hỏi tên cô?"
Ngọc mở miệng, rồi ngậm lại.
Cô đứng trong đám đông, giữa khói hương và tiếng trống, và cô lục lại thật, và cô lục kỹ, và cô thấy lạnh.
"Ít lắm ạ," cô nói.
"Ừ."
"Người ta gọi cháu là cô bán nước. Hoặc là cô ơi. Có mấy ông xe ôm ngồi quen mười mấy năm thì gọi cháu là cái Ngọc."
"Còn cô thì không hỏi tên ai," ông nói.
"Bà cháu dạy cháu thế ạ."
"Bà cô dạy đúng," ông nói ngay. "Cô đừng có nghĩ là bà cô dạy sai. Cái nếp ấy tốt. Nó là cái tốt nhất trong cả cái nghề của cô."
Ông quay sang nhìn cô.
"Nhưng cô ơi, cô có biết cái nếp ấy nó làm ra cái gì không?"
"Cái gì ạ?"
"Nó làm ra một cái chỗ trống," ông nói. "Ở đúng chỗ đáng lẽ là tên cô."
Ngọc đứng im.
Ngoài kia, người xướng tế gọi một tiếng dài, và cả sân im xuống một nhịp, rồi trống nổi.
"Bảy năm cô rót nước cho không biết bao nhiêu người," ông nói. "Cô cho người ta ngồi, cô cho người ta uống, cô ghi nợ cho người ta, cô không đòi ai cái gì bao giờ. Đúng không."
"Vâng ạ."
"Thế thì hôm nay cô phải đòi," ông nói.
"Đòi gì ạ?"
"Đòi người ta gọi tên cô," ông nói.
Ông nhìn ra sân.
"Cô cứ tưởng cái ấy là kiêu. Nó không kiêu đâu, cô ạ. Cô nghĩ mà xem, cả cái tháng vừa rồi cô đi khắp nơi bắt các làng phải gọi đúng tên thần của họ. Cô bảo họ là gọi sai thì hỏng. Cô bảo ông cụ bảy mươi tám tuổi kia là bác cứ khất ngài một năm, rồi bác gọi."
Ông quay lại.
"Vậy mà đến lượt cô thì cô lại nghĩ là đòi người ta gọi đúng tên mình là hỗn. Cô nghĩ có buồn cười không."
"Bác ơi," Ngọc nói. "Cháu nói với họ thì họ tin cháu không ạ?"
"Không," ông nói. "Cô nói thì họ không tin đâu."
"Thế thì..."
"Cô nói thì họ không tin," ông nói. "Nhưng cô có phải là đứa duy nhất nói đâu."
Ngọc quay phắt lại.
"Cô đi hai mươi mốt cái làng," ông nói. "Cô ngồi với người ta. Cô ăn cơm nhà người ta. Cô đi đưa đám một ông cụ quét sân."
Ông chỉ cằm về phía đám đông.
"Hôm nay là hội to nhất vùng tây thành phố. Cô nghĩ trong mấy nghìn người ở đây, có bao nhiêu người từ mấy cái làng ấy ra?"
Ngọc quay lại nhìn đám đông.
Cô nhìn cái biển người ấy, và lần đầu tiên trong buổi sáng hôm nay cô không nhìn nó như một khối.
"Cô cứ đi tìm cách cãi với mấy nghìn người," ông nói. "Cô không cãi được. Cô chỉ cần mấy người thôi. Mấy người biết cô, đứng đúng chỗ, nói đúng một câu."
Ông nhún vai.
"Cái ấy thì cô không xin được đâu. Cái ấy là cái người ta trả cho cô, vì cô đã cho người ta trước rồi."
Trống hội ngừng. Người xướng gọi một tiếng.
Đội tế bắt đầu vào phần chính.
"Bác ơi," Ngọc nói nhanh. "Cháu hỏi bác một câu nữa."
"Ừ."
"Sao nó không mặc được bác?"
Ông đang nhìn ra sân. Ông không quay lại.
"Sao cô biết là nó không mặc được tôi?"
"Vì bác đứng đây," Ngọc nói. "Bác tay không, bác đi một mình, bác không có ai đi cùng, bác không cho cháu biết tên. Bác đúng là cái loại nó thích nhất."
Ông cười khùng khục.
"Cô này khá," ông nói.
Ông đứng im một lúc.
"Cô ạ, cái nó cần là một cái tên bị bỏ trống," ông nói. "Tên tôi thì không trống được."
"Sao lại không ạ?"
"Vì tối nào ở cái đất này cũng có người gọi," ông nói.
Ngọc chưa kịp hỏi thì ông đã nói tiếp, giọng thường, như người nói chuyện vặt:
"Bà ru cháu. Mẹ dỗ con. Trẻ con nó khóc thì người lớn bảo là nín đi không thì ông kia bắt, mà nó ngoan thì người lớn bảo là ngoan thì ông kia cho. Mấy nghìn năm nay, đêm nào cũng có người nhắc."
Ông xoa hai bàn tay vào nhau cho ấm.
"Nên cái lốt của tôi nó chật lắm, cô ạ. Chật nhất nước. Nó có mặc thì cũng rách ngay."
Ngoài sân, người xướng tế cất giọng.
"Cung thỉnh..."
Cả sân đền im phăng phắc.
Và đúng khoảnh khắc ấy, từ phía cổng, chỗ hai con voi đá, có tiếng một người đàn bà gào lên.
Cả biển người quay đầu.
Ngọc quay đầu theo, và cô nhìn thấy, ở lối vào, giữa hai con voi đá, một người đàn bà hai mươi sáu tuổi mặc áo len xám, tóc buộc thấp, đang giằng ra khỏi tay hai người bảo vệ và chỉ tay vào gian trong mà gào.
Mặt cô ta là mặt Ngọc.
"Đấy," ông khách nói khẽ bên cạnh. "Bắt đầu rồi."
Ngọc quay sang.
Chỗ ông đứng không còn ai. Chỉ có lưng của một bà cụ đang chắp tay vái.
Chú thích
1. Trong lễ tế cổ truyền, người xướng đọc các lời hô để điều khiển trình tự; phần cung thỉnh là lúc mời vị thần được thờ về dự lễ, và cả sân thường im lặng ở đoạn này.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 29 →