Ngọc dậy lúc bốn rưỡi, như mọi ngày trong đời cô.
Cô xuống nhà, mở cửa cuốn lên đúng một nửa, bắc ấm, đổ nước, vặn ngược cái van rồi mới vặn xuôi. Cô ngồi xuống bên bếp, ôm lấy ấm cho ấm tay.
Mười phút.
Cô cho phép mình mười phút, như thỏa thuận. Nhưng sáng nay cô ngồi đấy và cô không tìm được cái gì để sợ nữa. Cái sợ đã đi hết chỗ của nó trong hai đêm vừa rồi, và cái còn lại là một sự trống rỗng rất bình tĩnh, cái trống rỗng của người đã hết đường lùi.
Nước sôi. Cô tắt bếp.
Rồi cô làm một việc mà cô đã nghĩ suốt đêm.
Cô pha một ấm trà đầy. Cô lấy hai chục cái chén ra, rửa, úp lên khay. Cô bê cái bàn con ra vỉa hè, kê cái ghế nhựa xanh gãy chân bằng viên gạch, đặt phích lên bàn.
Rồi cô lấy một tờ bìa các tông, xé từ cái thùng Trọng để lại, và cô viết lên bằng bút dạ:
NƯỚC MIỄN PHÍ. AI KHÁT CỨ RÓT.
Cô dựng cái bìa lên bàn.
Cô đứng nhìn cái quán của mình một lúc lâu.
"Cháu đi đây bà ạ," cô nói với cái quán.
Rồi cô khoác cái túi vải có quyển sổ bìa da lên vai, kéo cửa cuốn xuống, và đi ra đầu phố bắt xe.
Đền Voi Phục ngày chính hội thì không còn là cái chỗ cô đã đến hôm mùng bảy.
Cả một khúc phố Kim Mã bị chặn. Cờ hội cắm hai bên. Từ ngoài đường vào tới cổng đền là một dòng người đi chậm, nhích từng bước, và trong dòng người ấy có đủ mọi hạng: các cụ áo dài the khăn xếp, các bà áo dài lụa cầm túi lễ, thanh niên đi xe máy gửi ngoài rồi lội bộ vào, trẻ con được bế trên vai, khách du lịch cầm điện thoại giơ lên.
Có mùi hương. Rất nhiều hương. Cái mùi ấy dày đến mức đứng ngoài ba trăm mét đã ngửi thấy.
Có tiếng trống. Trống hội đánh từ trong sân, đều đặn, và cái tiếng ấy đi qua đám đông và đi vào trong ngực người ta.
Ngọc đứng ở lề đường nhìn cái dòng người ấy và cô thấy hai chân mình nặng.
Mấy nghìn người.
Cô đã nghe cái con số ấy suốt hai hôm nay và cô đã tưởng cô hình dung được. Cô không hình dung được.
Cô đi vào theo dòng người, và cô đi được chừng hai chục bước thì có người nắm lấy tay cô.
Cô giật mình quay lại.
Một bà cụ. Chừng bảy mươi, người nhỏ, mặc áo dài nâu, tay xách một cái làn nhựa đựng lễ.
"Cô ơi cô ơi," bà cụ nói, và bà nói rất nhanh, "cô có phải cô Ngọc không?"
Ngọc lùi lại nửa bước.
"Cô là cô Ngọc bên hội phải không?" Bà cụ vẫn nắm tay cô. "Tôi ở chợ Bưởi. Tôi có nghe. Tôi tìm cô từ sáng."
"Bà tìm cháu làm gì ạ?"
"Cô ơi tôi phải nói với cô cái này," bà cụ nói. Mắt bà ầng ậc nước. "Con dâu tôi..."
Ngọc đứng yên.
Cô nhìn bàn tay đang nắm cổ tay mình. Bàn tay của một bà già bảy mươi, gân guốc, có mấy vết đồi mồi, móng cắt ngắn, có mùi lá trầu.
Rồi cô nhìn vào mắt bà cụ.
"Bà ơi," cô nói. "Bà tên gì ạ?"
"Tôi là bà Kính ở chợ Bưởi," bà cụ nói ngay. "Cô ơi cô nghe tôi nói đã..."
"Bà bán hàng gì ạ?"
"Tôi bán hoa. Cô ơi cô nghe tôi..."
"Bà đi với ai đến đây ạ?"
Bà cụ dừng.
Đúng nửa nhịp.
"Tôi đi một mình," bà nói.
Ngọc gỡ tay bà ra.
Cô làm việc ấy nhẹ nhàng, không giật, và cô nắm lấy cổ tay bà cụ và giữ lại, và cô kéo bà ra khỏi dòng người, vào chỗ khuất sau một cái xe bán bóng bay.
"Bà Kính ở chợ Bưởi mất tích ba tháng nay rồi," cô nói. "Đúng không."
Cái mặt bà cụ vẫn nguyên như thế.
"Cô giỏi lắm," nó nói. Vẫn giọng bà cụ. "Cô nhìn ra ở chỗ nào?"
"Bà cụ nào đi hội một mình mà không nhờ ai xách hộ cái làn," Ngọc nói. "Bà nào đi hội cũng đi với hàng xóm. Đi một mình thì cũng gặp người quen ở cổng."
"Ừ nhỉ," nó nói. "Cái ấy tôi không nghĩ ra."
Ngọc không buông tay nó.
Xung quanh, dòng người vẫn nhích. Không ai để ý hai người đàn bà đứng nói chuyện sau cái xe bóng bay.
"Mày ra đây làm gì?" Ngọc hỏi.
"Để giữ cô lại."
"Giữ tôi ở ngoài này à?"
"Không." Nó nhìn cô, và cái nhìn ấy trong cái mặt bà cụ bảy mươi thì rất khó chịu. "Giữ cô cho khỏi đi lung tung. Trong kia đông lắm. Tôi cần cô ở đúng chỗ, đúng giờ."
"Đúng chỗ nào?"
"Giữa sân," nó nói. "Lúc tế."
Ngọc siết chặt cổ tay nó hơn.
"Cô làm gì thì làm," nó nói, bình thản. "Cô lột tôi ra ở đây cũng được. Bà Kính thì chết rồi, chết từ tháng Một, cô có cứu được ai đâu. Cô lột xong thì có một bà cụ đổ ra giữa đường ngày hội, người ta xúm vào, gọi cấp cứu, ầm ĩ."
Nó nhếch mép.
"Rồi cô đứng đấy giải thích với người ta."
Ngọc đứng im.
"Cô thấy chưa," nó nói. "Nãy giờ tôi có nói dối cô câu nào đâu."
Cô buông tay nó ra.
Không phải vì nó nói đúng. Là vì trong khoảnh khắc ấy cô nhìn thấy cái cấu trúc của cả buổi sáng hôm nay, nhìn thấy rất rõ, như nhìn một cái sơ đồ.
Nó không cần thắng cô. Nó cần cô bận.
Mỗi cái lốt nó thả ra trước mặt cô là một cái bẫy tiêu thì giờ. Nếu cô gỡ, cô mất mười lăm phút, gây một đám đông, có khi bị giữ lại. Nếu cô không gỡ, cô đi tiếp với cái biết rằng mình vừa để một cái lốt đi lại trong đám hội.
"Còn mấy cái?" cô hỏi.
"Cô hỏi hay đấy," nó nói. "Bốn."
"Trong này mấy cái?"
Nó cười.
"Cô vào mà đếm."
Rồi nó cầm cái làn lên, sửa lại vạt áo dài nâu, và nó lẫn vào dòng người đi lễ, và trong ba giây nó biến mất giữa mấy trăm cái lưng.
Ngọc đứng lại sau cái xe bóng bay.
Cô lấy điện thoại ra, mở tin nhắn, gõ cho Thư:
Nó thả lốt ra để câu giờ mình. Không gỡ cái nào hết. Ai thấy cũng kệ. Đến giờ tế thì chỉ nhìn vào cái sân.
Thư trả lời sau mười giây:
Vâng ạ. Chị ơi bọn em đến rồi.
Ngọc đứng nhìn cái tin ấy.
Cô gõ: Chị bảo là đi một mình.
Vâng ạ. Bọn em không đứng cạnh chị. Bọn em đứng bốn góc.
Rồi một tin nữa:
Anh Lạc bảo là chị ra lệnh cho hội thì được, chứ chị không ra lệnh được cho từng đứa bọn em đi hội hay không đi hội ạ.
Ngọc đứng giữa dòng người đi lễ ở phố Kim Mã sáng mười một tháng Hai, tay cầm cái điện thoại có màn hình nứt, và cô cười.
Cô cười một tiếng, rồi cô phải quay mặt đi vì mắt cô nóng lên.
Cô gõ lại: Ừ.
Rồi cô cất điện thoại, kéo cái túi vải lên vai cho chắc, và cô bước vào dòng người.
Trong sân đền đã kín người.
Ngọc len được tới chỗ cách sân tế chừng hai chục mét thì không nhích thêm được nữa. Trước mặt cô là lưng người, hai bên là lưng người, và trên đầu là cành cây và khói hương.
Cô đứng đấy, trong đám đông, và cô để cho mình nhìn.
Trên khoảng sân trải chiếu, đội tế đang chuẩn bị. Các cụ áo thụng, khăn xếp, đứng thành hàng. Có chiêng, có trống, có người cầm cờ. Ở giữa, hướng vào gian trong, là hương án bày lễ.
Và ở hai bên lối lên, hai con voi đá vẫn quỳ, đầu cúi, y nguyên như chín trăm sáu mươi năm nay.
Ngọc nhìn hai con voi ấy, và cô nghĩ tới cái vệt bụi hình vòng cung hôm mùng bảy.
"Thưa ngài," cô nói khẽ, trong đám đông, không ai nghe. "Con đến rồi."
Đúng lúc ấy, cách cô ba bước về bên phải, có một người đàn ông đứng tuổi mặc áo khoác nâu bạc màu quay đầu lại nhìn cô.
Tay không. Không túi, không mũ, không cả cái nón.
Ông ta nhìn cô, và ông ta cười.
Chú thích
1. Ngày chính hội ở các lễ hội đình đền lớn quanh Hà Nội thường thu hút hàng nghìn người, phố sá quanh di tích được chặn một phần, và người đi lễ xếp hàng nhích dần vào trong. 2. Trong tế lễ cổ truyền, đội tế mặc áo thụng, đứng theo hàng trước hương án, có chiêng trống và cờ; phần tế được tiến hành theo trình tự do người xướng điều khiển.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 28 →