Đêm mùng chín, người ta thức canh ở điện.

Khoảng ba chục người ngồi lại. Có mấy bà bạn cũ của cô Diệu, có bà Tâm, có bốn đứa trong đội, có mươi lăm người của hội từ các tỉnh về kịp. Người ta ngồi ngoài sân, uống nước Trọng pha, nói chuyện khẽ, và cứ độ nửa tiếng lại có người vào thắp thêm nén hương.

Ngọc ngồi trong gian trong, cạnh bà.

Đến hơn một giờ sáng thì cô ngủ gật.

Cô chỉ ngủ chừng mười lăm phút. Cô tỉnh dậy vì tiếng ồn ngoài sân, cái tiếng của rất nhiều người cùng nói một lúc, và cái tiếng ấy không phải tiếng khóc.

Là tiếng reo.

Cô quay sang cái phản.

Trống không.

Cô ra tới cửa thì thấy cả cái sân điện đứng dồn về một phía, và ở giữa đám người ấy có một bà cụ đang ngồi trên cái ghế nhựa, người quấn cái vải điều, tóc rối, mặt trắng bệch.

Bà Tâm quỳ dưới chân, ôm lấy đầu gối bà, khóc rống lên.

"Trời ơi cụ ơi, cụ làm con sợ chết đi được."

"Ta khát," cô Diệu nói.

Có ba người cùng chạy đi lấy nước.

Ngọc đứng ở bậc cửa và cô không nhúc nhích được.

Người ta vây quanh bà cụ. Người ta sờ tay bà, sờ trán bà, có người cười, có người khóc, có người vừa cười vừa khóc. Có một bà cụ khác quỳ xuống lạy về phía bàn thờ. Có một anh thanh niên chạy ra ngõ gọi điện cho ai đó, giọng vỡ ra: "Cụ tỉnh rồi! Cụ tỉnh rồi anh ơi!"

Và cô Diệu ngồi giữa cái sân ấy, run rẩy, yếu ớt, và bà đưa mắt tìm khắp một lượt cho đến khi bà nhìn thấy Ngọc ở bậc cửa.

"Con ơi," bà gọi.

Ngọc bước xuống sân.

Đám người rẽ ra cho cô đi.

Cô đến trước mặt bà và cô quỳ xuống, và cô cầm lấy hai bàn tay bà.

Hai bàn tay ấy lạnh, và nhẹ như một nắm lá khô, và trên mu bàn tay phải có cái nốt ruồi mà cô đã nhìn thấy hàng nghìn lần trong mười lăm năm.

"Ta ngủ lâu quá," cô Diệu nói. "Ta có mơ. Ta mơ thấy ta đi đâu xa lắm."

"Cô ơi," Ngọc nói.

Cô nghe tiếng mình. Nó bình thường. Nó không run.

"Đừng khóc," bà cụ nói, và bà đưa tay lên lau mặt cô, và cái động tác ấy đúng, đúng từng ly, cái cách bà đưa tay lên bằng cả bàn tay chứ không phải bằng ngón, cái cách bà chạm vào gò má trước rồi mới vuốt xuống. "Ta còn đây mà."

Sau lưng Ngọc, ai đó nói: "Người ta có trường hợp thế đấy, chết lâm sàng, mấy tiếng rồi tỉnh lại." Ai đó khác nói: "Ơn giời, ơn giời."

Vọng đứng ở góc sân, và mặt anh trắng như tờ giấy.

Ngọc nhìn anh.

Anh lắc đầu, rất khẽ. Rồi anh lắc đầu lần nữa, và lần này Ngọc hiểu là anh không lắc để trả lời cô. Anh đang lắc để cãi lại chính mình.

Thư là người hỏi.

Con bé chen vào, quỳ xuống cạnh Ngọc, và Ngọc thấy tay con bé run bần bật, và cô hiểu là con bé đang cố làm cái việc mà nó đã tự dặn mình phải làm dù có chuyện gì.

"Cô ơi," Thư nói. "Cô cho con hỏi một câu ạ."

"Ừ con."

"Con làm ơn cô đừng giận con." Con bé nuốt. "Con phải hỏi. Cô hiểu vì sao con phải hỏi."

Cô Diệu nhìn con bé, và bà cười, một cái cười mệt mỏi và bao dung.

"Con hỏi đi," bà nói. "Con là đứa cẩn thận. Ta biết."

"Trong quyển sổ của cô," Thư nói, "dòng thứ nhất. Người thứ nhất cô đón về là ai ạ?"

Cả sân im.

Cô Diệu nhắm mắt lại một lúc, như người phải lục trong trí nhớ.

Rồi bà nói:

"Chị Vân. Nguyễn Thị Vân. Mười bảy tuổi, người Hà Đông. Thức Ấn ở đền Và, tháng Ba năm bảy tư."

Bà mở mắt ra.

"Ta đi xe đạp xuống đón nó. Hồi ấy mưa. Ta nhớ là mưa."

Thư ngồi sụp xuống.

Con bé bật khóc, và nó ôm lấy tay bà cụ, và nó cứ thế khóc, và có mấy người xung quanh cũng khóc theo, và bà Tâm thì lạy về phía bàn thờ ba lạy nữa.

"Đúng rồi cô ơi," Thư nói qua nước mắt. "Đúng rồi ạ. Con xin lỗi cô. Con xin lỗi cô."

Ngọc vẫn quỳ đấy, hai tay còn cầm hai bàn tay bà.

Cô cảm thấy tất cả mọi thứ rất rõ. Cô cảm thấy cái lạnh của mấy ngón tay ấy. Cảm thấy nền gạch dưới đầu gối. Cảm thấy mùi hương vòng, mùi nến, mùi nước chè loãng, mùi người.

Và cô cảm thấy, rõ hơn tất cả, cái sự thật rằng nếu bây giờ cô đứng dậy và đi ra khỏi cái sân này, thì trong ba ngày tới bà sẽ ngồi ở đây, và người ta sẽ nấu cháo cho bà, và bà sẽ têm trầu, và bà sẽ gọi cô là con.

Và cô sẽ có một người mẹ.

Cô nhắm mắt lại.

Cô nghĩ tới cái người em chồng ở Đông Trù, ngồi trên bậc thềm, nhổ nước bọt xuống sân: tôi biết nó không phải chị Hiền. Tôi biết từ tháng thứ hai. Rồi tôi nghĩ là thôi kệ. Miễn mẹ tôi vui.

Cô mở mắt ra.

"Cô ơi," cô nói.

"Ừ."

"Con hỏi cô một câu nữa."

"Ừ con."

Ngọc siết hai bàn tay ấy chặt hơn một chút.

"Thằng bé ở Đông Anh," cô nói. "Tháng Chạp năm bảy ba. Nó tên gì ạ?"

Cái sân im.

Nó im theo cái kiểu mà những người đứng đấy không hiểu, vì họ không biết câu hỏi ấy nghĩa là gì. Họ chỉ thấy con bé Ngọc hỏi một câu lạ, và bà cụ không trả lời ngay.

Cô Diệu nhìn cô.

Trong ba giây ấy, cái mặt trước mặt Ngọc không đổi. Không co lại, không hiện ra cái gì khác. Vẫn là mặt bà, vẫn cái nếp nhăn ấy, vẫn đôi mắt đục ấy.

Nhưng ở sau đôi mắt ấy có một cái gì đó đang chạy rất nhanh, chạy đi tìm, và không tìm thấy.

"Con hỏi gì lạ thế," bà cụ nói. "Ta có nhớ được hết đâu."

"Cô nhớ được," Ngọc nói.

"Con ơi ta vừa..."

"Cô kể cho con nghe cái đêm mở giá," Ngọc nói. Giọng cô vẫn đều. "Cô nắm tay con, cô bảo con nhớ hộ cô. Cô bảo là bốn mươi hai năm cô không nói với đứa nào, con là đứa đầu tiên."

Cô đứng dậy, và cô không buông tay bà ra.

"Cô nói tên nó đi."

Lạc bước lên.

"Chị Ngọc," anh nói. "Chị làm cái gì thế?"

"Anh đứng yên."

"Chị..."

"Anh Lạc, đứng yên." Cô không quay lại. "Cô ơi. Nói tên nó đi."

Bà cụ trên ghế nhựa nhìn cô.

Và rồi bà làm một việc rất khôn, việc khôn nhất có thể làm trong cái sân ấy, giữa ba chục con người vừa được trả lại một bà cụ mà họ tưởng đã mất.

Bà khóc.

"Con ơi," bà nói, và nước mắt bà chảy ra thật, "con nghi ta à?"

Cả sân động lên.

"Cô Ngọc!" bà Tâm kêu. "Cô làm cái gì thế! Cụ vừa tỉnh lại cô còn tra khảo cụ!"

"Con bé này!" một bà khác nói.

Có tiếng người xì xào. Có ai đó bảo là con này nó vừa lên làm chủ hội thì nó thế đấy. Có ai đó bảo là thôi thôi, để cụ nghỉ.

Thư đứng lên, mặt tái mét.

"Chị ơi," con bé nói. "Chị ơi em hỏi rồi mà. Cô trả lời đúng rồi mà chị."

"Em hỏi cái cả hội đều biết," Ngọc nói.

"Nhưng..."

"Nó trả lời trúng cái mình tin, Thư ạ." Ngọc vẫn nhìn bà cụ. "Em quên rồi à. Em là đứa dạy chị cái ấy."

Vọng bước ra giữa sân.

"Thưa bà con," anh nói to.

Anh không bao giờ nói to. Cả sân quay lại.

"Tôi là Vọng, tôi ở bãi giữa, mấy bác trong hội biết tôi." Anh đứng thẳng, hai tay buông. "Sáng nay tôi có vào đây. Tôi đứng ở góc kia hơn một tiếng."

Anh chỉ vào góc điện.

"Tôi làm cái nghề của tôi hai mươi năm rồi. Sáng nay tôi tìm cụ. Tôi tìm khắp cái điện này, tìm ra cả ngoài ngõ."

Anh dừng.

"Cụ không có ở đây, thưa bà con. Cụ đi từ bốn giờ hai mươi sáng, đi thẳng, không vướng, không quay lại. Tôi đã nói với chị Ngọc lúc mười giờ sáng, có cô Thư đứng cạnh nghe."

Bà Tâm quay sang Thư.

"Có không cô?"

Thư đứng đấy, và Ngọc nhìn thấy con bé đang phải trả cái giá đắt nhất trong đời nó cho tới hôm ấy: phải chọn giữa cái nó đã kiểm được và cái nó muốn tin.

"Có ạ," Thư nói. "Anh Vọng có nói. Lúc mười giờ."

Bà cụ trên ghế nhựa thôi khóc.

Bà lấy vạt vải điều lau mặt, chậm rãi, và khi bà bỏ tay xuống thì mặt bà đã khô.

"Ba chục người ở đây," bà nói.

Giọng bà vẫn là giọng bà. Đó là cái tệ nhất.

"Ba chục người, cô Ngọc ạ. Ba chục người vừa mất một bà cụ lúc bốn giờ sáng và vừa được trả lại lúc một giờ đêm. Cô nhìn quanh mà xem."

Bà đưa mắt một lượt quanh sân.

"Bà Tâm ở với ta mười một năm. Cái Hòa kia ta đỡ cho nó hai lần. Ông Khôi đứng đằng kia, năm chín ba ta lôi thằng con ông ấy về từ chỗ nào ông ấy biết."

Bà quay lại nhìn Ngọc.

"Cô cứ nói đi. Cô cứ nói ta là con cáo. Rồi cô làm cái việc của cô, ngay đây, trước mặt họ."

Bà chìa hai tay ra, ngửa lên, như người đưa tay cho người khác trói.

"Rồi ba chục người này về nhà, và suốt đời họ sẽ kể lại rằng cái đêm cụ Diệu tỉnh lại thì con bé bán nước ở Hàng Buồm nó bóp chết cụ giữa sân."

Bà cụ mỉm cười.

"Cô cứ làm đi con."

Ngọc đứng đấy.

Cô đứng rất lâu, và cô biết mình đang đứng lâu, và cô để cho mình đứng lâu, vì cô muốn nhớ cái mặt này.

Rồi cô buông hai bàn tay bà ra.

Cô lùi lại một bước, và cô quỳ xuống nền gạch, và cô lạy ba lạy.

"Thưa cô," cô nói.

Cô ngẩng lên.

"Cô Diệu, thủ nhang điện Vọng Từ, tên khai sinh là Trần Thị Diệu, sinh năm một chín năm lăm ở Kim Bảng, Hà Nam. Bốn mươi hai năm giữ hội Nêu. Người thứ nhất cô đón về không phải chị Vân."

Cô nói to, rõ, cho cả cái sân nghe.

"Người thứ nhất là một thằng bé mười một tuổi ở Đông Anh, tháng Chạp năm bảy ba, tên là Nguyễn Văn Chiểu. Cô đến muộn ba hôm. Cô không cứu được nó. Cô không viết tên nó vào sổ, và cô mang cái ấy bốn mươi hai năm, và cô chỉ nói với một người trong đời."

Nước mắt cô chảy xuống cằm.

"Con là người ấy ạ. Con nhớ rồi. Con nhớ đủ hai cái tên."

Cái vật trên ghế nhựa đứng bật dậy.

Nó đứng dậy nhanh quá, nhanh hơn bất cứ cái gì tám mươi mốt tuổi có thể đứng dậy, và cả cái sân lùi lại một bước cùng một lúc, và trong khoảnh khắc ấy ba chục con người ở đấy nhìn thấy rõ ràng, không ai còn cãi được nữa.

"Con này," nó nói.

Và giọng nó là giọng của rất nhiều người cùng nói, lệch nhau nửa nhịp.

Chú thích

1. Trường hợp người được xác định đã tử vong rồi có dấu hiệu sống lại là hiện tượng y khoa có thật nhưng cực hiếm; trong dân gian Việt, chuyện "chết đi sống lại" xuất hiện dày đặc trong truyện kể và thường được diễn giải theo hướng tâm linh.

Hết Chương 24
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 25 →
← TrướcTiếp →