Hội Nêu họp mặt ở một cái nhà văn hóa phường thuê được ba ngày, mùng năm tháng Hai, và đó là lần đầu tiên trong bốn mươi hai năm cái hội ấy tụ hơn hai chục người vào một chỗ.
Có tám mươi bảy người đến.
Ngọc đứng ở cửa nhìn vào cái hội trường ấy và cô thấy chóng mặt. Có cụ già chống gậy. Có mấy chị công nhân xin nghỉ ca. Có một anh lái xe tải đi từ Nghệ An ra, ngủ trên xe hai đêm. Có bốn năm đứa sinh viên. Có một chị mang theo con nhỏ vì không gửi được ai.
Tám mươi bảy người, và trong bốn mươi ba người của hội cũ thì chỉ có mười một người đến được.
Nghĩa là bảy mươi sáu người trong cái phòng này là người lạ.
"Chị ơi," Thư nói khẽ. "Mình không kiểm nổi đâu."
"Anh biết," Lạc nói. "Nhưng không họp thì càng chết. Bảy mươi sáu đứa kia đang lóe khắp nước, mỗi đứa một chỗ, không ai dạy cho nó cách dằn. Trấn Long nhặt được thằng nào là xong thằng ấy."
Họ làm được một việc, và việc ấy là của Thư.
Con bé không cho ai vào ngay. Nó kê một cái bàn ở cửa, và mỗi người tới thì nó ngồi với người ấy mười phút, và nó không hỏi về Ấn.
Nó hỏi về nhà.
Bác quê đâu. Bố mẹ bác tên gì. Bác có mấy anh chị em. Nhà bác thờ ai. Ngày giỗ ông bà bác là ngày nào. Hồi bé bác học trường nào. Ai ở đây biết bác từ trước không.
"Em không kiểm được người ạ," con bé giải thích với Ngọc lúc nghỉ. "Nhưng em kiểm được cái sợi. Người nào cũng phải dính vào một chỗ nào đó, phải có ai đó ở đâu đó gọi tên người ta hàng ngày. Em hỏi cho ra cái sợi ấy."
"Rồi sao?"
"Tám mươi sáu người có sợi ạ." Thư đẩy quyển sổ sang. "Người thì nhiều sợi, người thì mỏng lắm, có bác chỉ còn một đứa cháu ở xa. Nhưng ai cũng có."
"Còn người thứ tám mươi bảy?"
Thư không trả lời ngay.
Anh ta ngồi ở hàng ghế cuối, sát tường.
Chừng ba mươi tuổi. Áo khoác gió xám, quần bò, giày thể thao. Người bình thường đến mức Ngọc phải nhìn hai lần mới định hình được cái mặt.
Anh ta đến sớm nhất. Anh ta phụ kê bàn ghế. Trong lúc mọi người lộn xộn thì anh ta là người đi rót nước cho các cụ, đi tìm ổ cắm cho cái quạt, đi mua thêm cốc giấy khi hết. Ai nhờ gì cũng làm. Làm nhanh, làm gọn, không nói nhiều.
"Anh ấy tốt thế," một bà cụ nói với Ngọc. "Từ sáng đến giờ nó chạy suốt."
"Bà biết anh ấy à?"
"Không, tôi tưởng người của hội."
Thư ngồi với anh ta mười phút ở cái bàn ngoài cửa, và con bé quay vào với cái mặt trắng bệch.
"Anh ấy trả lời hết ạ," nó nói. "Trôi chảy. Quê Thái Bình, bố mẹ tên gì, ba anh em, giỗ ông nội tháng Chín, học cấp ba trường huyện."
"Thế thì sao?"
"Em hỏi câu cuối cùng ạ." Thư đặt sổ xuống. "Em hỏi là ở đây có ai biết anh từ trước không."
"Anh ta bảo sao?"
"Anh ấy bảo có ạ. Anh ấy chỉ vào bác Thoại ở hàng ba." Con bé ngẩng lên. "Em sang hỏi bác Thoại. Bác Thoại bảo là có, bác quen cậu ấy, cậu ấy hay đi cùng bác."
"Thế thì..."
"Em hỏi bác Thoại là cậu ấy tên gì ạ," Thư nói.
Con bé nhìn Ngọc.
"Bác Thoại nghĩ mất một lúc. Rồi bác bảo em là: ừ nhỉ, cái thằng ấy tên gì nhỉ."
Ngọc cho giải tán sớm.
Cô đứng lên trước tám mươi bảy con người và cô nói dối họ, và cô nói dối trơn tru, và sau này cô sẽ nhớ mãi cái dễ dàng ấy. Cô bảo là hôm nay trời trở, các cụ về sớm kẻo mưa, mai họp tiếp. Cô bảo Lạc đứng ở cửa dặn dò từng người. Cô bảo Trọng ra ngoài canh xe.
Đến sáu giờ chiều thì nhà văn hóa chỉ còn năm người của đội, và anh ta.
Anh ta đang xếp ghế.
Anh ta xếp chồng lên nhau rất khéo, mười cái một chồng, thẳng hàng, và anh ta làm xong hai hàng rồi mới ngẩng lên thấy không còn ai khác trong phòng.
Anh ta đứng thẳng dậy, phủi tay.
"Xong rồi chị," anh ta nói với Ngọc. "Còn cái bàn ngoài kia nữa em bê nốt."
"Anh tên gì?" Ngọc hỏi.
Anh ta nhìn cô.
Và anh ta trả lời ngay, không ngập ngừng, một cái tên rất bình thường, hai chữ, cái loại tên mà nghe xong là quên.
"Ai gọi anh bằng cái tên ấy?" Ngọc hỏi.
Lần này anh ta không trả lời ngay.
Anh ta đứng giữa cái hội trường trống, giữa hai hàng ghế xếp chồng ngay ngắn, và anh ta cười.
"Cô hỏi hay lắm," anh ta nói. "Cô càng ngày càng hỏi hay."
"Bao lâu rồi?" Ngọc hỏi.
"Từ mùng bảy Tết," nó nói. "Tôi vào từ hôm cái đội cô ngồi trong quán bàn nhau về Phú Thọ."
Lạc chửi một tiếng.
"Không phải tôi," nó nói với Lạc, gần như là an ủi. "Tôi không ngồi trong quán các người bao giờ. Tôi ở ngoài này cơ. Tôi ở trong cái danh sách ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt dòng của cô bé kia."
Thư đứng bật dậy.
"Cô bé ơi, cô bé lập cái bảng ấy giỏi lắm," nó nói. "Tên, số, địa chỉ. Cô bé điền được ba nghìn dòng trong hai ngày Tết. Cô bé có bao giờ tự hỏi là ba nghìn cái tên ấy ở đâu ra không?"
Thư đứng đấy, miệng hé ra.
"Người ta gọi điện báo lên ạ," con bé nói.
"Ừ," nó nói. "Người ta gọi. Người ta đọc tên. Cô bé ghi. Cô bé có gặp mặt đứa nào đâu."
Nó nhún vai.
"Tôi gọi cho cô bé hôm mùng ba. Tôi đọc cho cô bé một cái tên. Cô bé ghi vào dòng thứ tám trăm mấy chục. Thế là tôi ở trong hội."
"Cái người anh đang mặc ấy là ai?" Ngọc hỏi.
"Cô đừng hỏi cái ấy nữa," nó nói. "Cô hỏi hai lần rồi. Lần nào tôi cũng nói thật, mà lần nào cô cũng buồn."
"Tôi vẫn hỏi."
Nó nhìn cô.
"Không biết," nó nói. "Thật đấy. Cái này tôi nhặt ở Giáp Bát hồi tháng Chạp, cùng đợt với cái kia. Đàn ông, ba mươi mấy, đi một mình, không hành lý. Ngồi hai ngày."
"Anh ta không có giấy tờ à?"
"Có chứ." Nó cười. "Cô Ngọc ạ, cái đất này bây giờ cái gì cũng có giấy. Nhưng giấy nó không gọi tên người ta. Giấy nó chỉ ghi."
Vọng bước lên.
Anh đứng cạnh Ngọc, và Ngọc thấy anh đang thở gấp, và cô hiểu ra là anh sợ, và cô hiểu ra vì sao.
"Thưa chị," Vọng nói khẽ. "Tôi không làm được."
"Sao?"
"Tôi phải gọi tên người ta thì người ta mới về được ạ," anh nói. "Cụ Đàm thì tôi có tên. Chị Bích thì có. Cháu Tí thì có. Cái này..."
Anh nhìn cái thứ đang đứng giữa hai hàng ghế xếp chồng.
"Cái này tôi không có gì để gọi cả."
Nó nghe thấy. Tất nhiên là nó nghe thấy.
Và nó làm một việc mà không ai trong đội lường trước: nó ngồi xuống.
Nó ngồi xuống một cái ghế, hai tay đặt lên đùi, ngoan ngoãn, như người ta ngồi đợi đến lượt khám bệnh.
"Đấy," nó nói. "Bây giờ thì các người làm gì tôi?"
Không ai trả lời.
"Các người lột tôi ra thì cái này chết," nó nói, chỉ vào ngực mình. "Chết hẳn. Không ai gọi được về, vì các người không biết gọi cái gì. Chết rồi thì nhà xác gọi là nam, khoảng ba lăm tuổi, không rõ lai lịch. Rồi ba ngày sau thì đem chôn ở chỗ dành cho người vô thừa nhận."
Nó ngẩng lên nhìn Ngọc.
"Còn nếu các người không lột," nó nói, "thì tôi ngồi đây, và tôi vẫn xếp ghế, và tôi vẫn rót nước cho các cụ, và sang tuần tôi đi Voi Phục cùng các người."
Nó cười.
"Cô chọn đi, cô Ngọc."
Ngọc đứng đấy rất lâu.
Sau này, khi kể lại cho một người khác nghe, cô sẽ không nói được là cô đã cân nhắc cái gì trong mấy phút ấy. Cô chỉ nhớ hai thứ.
Thứ nhất là cái mùi. Nhà văn hóa phường nào cũng có cái mùi ấy, mùi sơn tường rẻ tiền pha mùi ẩm.
Thứ hai là cô nhớ tới ông Cẩn, bảy mươi tám tuổi, đứng giữa sân đình Hạ Sen, hạ tờ giấy xuống và nói: tôi không đọc bừa.
"Anh Lạc," cô nói.
"Ừ."
"Giữ nó."
Lạc bước tới.
"Chị đừng," Vọng nói. "Thưa chị, tôi không gọi được thì người ta không về được. Người ta sẽ mất hẳn."
"Em biết," Ngọc nói.
Cô bước tới trước mặt cái thứ đang ngồi trên ghế.
"Anh ơi," cô nói, và cô nói với cái người ở bên trong, không nói với nó. "Tôi không biết tên anh. Tôi xin lỗi. Tôi sẽ tìm. Tôi hứa với anh là tôi sẽ tìm cho ra tên anh, dù mất bao lâu, và khi nào tìm được thì tôi sẽ đọc tên anh ở một chỗ tử tế."
Cô hít vào.
"Nhưng hôm nay tôi không để anh bị nó mặc thêm một ngày nào nữa."
Cái vật trên ghế thôi cười.
"Cô làm thật à," nó nói.
"Anh Lạc," Ngọc nói.
Chú thích
1. Người chết không xác định được danh tính và không có thân nhân nhận được an táng theo diện vô thừa nhận, hồ sơ ghi các đặc điểm nhận dạng và nơi phát hiện; đây là quy trình có thật ở các thành phố lớn.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 20 →