Thư tìm ra nó vào chiều mùng một tháng Hai, và con bé tìm ra nó không phải bằng tư liệu mà bằng một câu hỏi rất trẻ con.
Cả đội đang ngồi ở quán bàn chuyện xuống kho B2. Lạc đang vẽ cái sơ đồ tầng hầm mà Trọng mô tả. Ngọc đang tính giờ. Vọng ngồi im.
Thư ngẩng lên khỏi máy tính và nói:
"Chị ơi, sao nó biết mình sắp xuống Voi Phục ạ?"
Cả quán im.
"Nó bảo chị đừng xuống Voi Phục," Thư nói chậm. "Hôm hai mươi bảy. Mà cái Voi Phục ấy thì mình mới ráp ra được tối hai mươi lăm, ở đây, trên cái tường kia."
Con bé chỉ vào cái bản đồ.
"Lúc ấy trong quán có mấy người ạ?"
Không ai trả lời.
"Năm người ạ," Thư nói. "Chị, anh Lạc, em, anh Vọng, anh Trọng. Cửa cuốn kéo xuống một nửa. Không ai đi qua. Em nhớ vì em ngồi quay mặt ra đường."
Ngọc đặt cái bút xuống.
"Có thể nó tự đoán," Lạc nói. "Cái vệt ấy chỉ về hướng ấy, ai nhìn cũng đoán được."
"Anh nói đúng ạ," Thư gật đầu. "Nếu chỉ có mỗi cái ấy thì em không nói. Nhưng còn chuyện anh Vọng."
Vọng ngẩng lên.
"Nó tới nhà anh Vọng," Thư nói. "Đúng cái đêm sau hôm anh Vọng nói ở đây rằng anh ấy nghi cái ông từ ở Hạ Sen là hồn quen việc. Nó tới, và nó nói với anh ấy đúng cái chuyện chị gái anh ấy sáu năm không gọi."
Con bé quay sang Vọng.
"Anh ơi, cái chuyện chị gái anh, anh kể với ai chưa ạ?"
Vọng ngồi im rất lâu.
"Tôi kể một lần," anh nói. "Ở đây. Hôm mùng bảy Tết. Lúc chị Ngọc hỏi tôi Tết có về quê không."
"Hôm ấy có mấy người ạ?"
"Năm," Vọng nói.
Không ai nói gì trong khoảng một phút.
Ngọc nghe được tiếng cái quạt trần nhà bên. Nghe được tiếng một đứa trẻ khóc ở tầng hai nhà đối diện. Nghe được tiếng chính mình thở.
Cô nhìn quanh cái quán của mình.
Lạc ngồi ở cái ghế gãy chân, khuỷu tay chống lên đầu gối, mắt nhìn xuống sàn.
Thư ngồi trước máy tính, hai bàn tay đặt lên mặt bàn, không động đậy.
Vọng ngồi phía trong cùng, gần bếp, chỗ ấm nhất.
Trọng ngồi ở mép, người còn nguyên bộ đồng phục, và cậu là người duy nhất đang nhìn thẳng vào Ngọc, và mặt cậu trắng bệch.
"Chị ơi," Trọng nói. "Em biết mọi người đang nghĩ gì rồi ạ."
"Trọng..."
"Không sao đâu chị." Cậu cười, một cái cười méo mó. "Em là thằng phản bội mà. Cả đội ai cũng biết. Em cũng biết."
"Không ai nói thế," Thư nói.
"Chị Thư ơi, chị không cần phải tử tế với em đâu." Trọng đứng dậy. "Em ngồi đây từ nãy tới giờ, em cũng đang tự hỏi có phải em không."
Cả bàn ngẩng lên.
"Vì em có nhớ hết đâu ạ," Trọng nói. "Em trực đêm. Em ngủ ngày. Có những hôm em dậy mà em không nhớ hôm trước em làm gì. Từ hôm hai mươi tám Tết em vào cái phòng ấy, em..."
Cậu dừng.
"Em không dám nói ra vì em sợ mọi người đuổi em," cậu nói. "Nhưng từ hôm ấy em hay mất giờ lắm ạ. Em đang đi tuần tầng bốn, xong em thấy em đang đứng ở tầng chín. Em không nhớ em lên bằng cầu thang hay thang máy."
Ngọc đứng dậy.
Cô đi ra sau quầy, bắc ấm, bật bếp. Cái van kẹt, vặn ngược lại một chút rồi mới vặn xuôi. Cô làm cái động tác ấy để có ba mươi giây không phải nhìn ai.
Cô đang sợ, và cô biết chính xác cái mình sợ.
Cô sợ rằng cả bốn đứa kia, ngay lúc này, đang làm đúng cái phép tính mà cô vừa làm. Và trong cái phép tính ấy có một dòng mà chỉ mình cô biết là có: rằng cô đã giấu cả đội một câu, rằng cái câu ấy chính là câu quan trọng nhất, và rằng nếu bây giờ cô nói ra thì bốn đứa kia sẽ hỏi cô một câu rất hợp lý.
Sao chị giấu?
Nước sôi. Cô tắt bếp.
Rồi cô quay lại, và cô đặt cái ấm xuống bàn, và cô nói:
"Nó còn nói với tôi một câu nữa. Tôi chưa kể."
Bốn cái đầu ngẩng lên.
"Nó bảo tôi đừng xuống Voi Phục, vì xuống đấy thì tôi phải đứng ra giữa chỗ đông người, và tôi không chịu nổi cái người ta sẽ gọi tôi."
Ngọc ngồi xuống.
"Rồi nó chào tôi. Nó chào là: chào cô Mỵ Châu."
Lạc đứng bật dậy.
"Chị giấu bao lâu rồi?"
"Bốn hôm."
"Bốn hôm." Anh đi hai bước, quay lại. "Chị Ngọc, chị là cái đầu của cái hội này. Nó tới tận quán chị, nó ngồi uống trà của chị, nó nói với chị một câu như thế, và chị giấu bốn hôm?"
"Đúng."
"Tại sao?"
"Vì tôi sợ," Ngọc nói.
Cô nói câu ấy bình thường, không bào chữa, và chính cái bình thường ấy làm Lạc đứng khựng lại.
"Tôi sợ các anh nhìn tôi khác đi," cô nói. "Tôi sợ từ hôm nay mỗi lần tôi ra một cái lệnh thì trong đầu các anh lại có một câu hỏi rằng cái ra lệnh này là chị Ngọc hay là cái gì. Nên tôi giấu. Tôi biết là sai ngay lúc tôi giấu, và tôi vẫn giấu."
Cô nhìn khắp bàn.
"Bây giờ thì tôi nói rồi. Và cái hại đã xảy ra rồi, và nó đúng cái hại tôi sợ, chỉ có điều bây giờ nó tệ hơn vì tôi giấu bốn hôm."
Thư là người lên tiếng trước, và con bé nói bằng cái giọng lạnh và chính xác mà nó chỉ dùng khi bị dồn.
"Chị ơi, em nói cái này ạ. Em nói không phải để bênh ai, em nói vì em nghĩ mãi từ hôm ở Đông Trù."
"Nói đi."
"Mình đang tìm sai cách." Thư gõ ngón tay lên mặt bàn. "Mình đang cố nghĩ xem trong năm người này ai là nó. Cái ấy không ra đâu ạ. Vì nó trả lời trúng cái mình tin, nên mình càng hỏi nhau thì càng tin nhầm."
"Thế thì làm gì?"
"Mình đổi câu hỏi ạ." Con bé ngẩng lên. "Đừng hỏi ai là nó. Hỏi cái gì trong năm người này đã trống."
Cả bàn im.
"Luật của nó là gì ạ?" Thư nói. "Nó chỉ vào được chỗ trống. Anh Vọng thì mười lăm năm không ai gọi tên. Cụ Đàm thì hai tháng không ai sang. Bà Nhàn thì bốn năm nằm một chỗ. Anh Trọng thì..."
Con bé dừng, và nó nhìn Trọng, và nó nói tiếp rất khẽ:
"Anh Trọng thì hai năm nay bố mẹ vẫn tưởng anh ấy học cao học ạ."
Trọng ngồi phịch xuống.
"Không phải em nghi anh," Thư nói nhanh. "Em nói ngược lại. Em nói là cả năm người ngồi đây đều có chỗ trống, chị ạ. Không ai sạch. Cái hội mình toàn người như thế, vì người có gia đình đầy đủ, có tên được gọi hàng ngày, có chỗ trong đời, thì người ta có đi làm cái nghề này đâu."
Con bé tháo kính ra, dụi mắt.
"Mình là cái đội dễ bị mặc nhất nước ạ."
Đêm hôm ấy Ngọc sang điện.
Cô Diệu đã yếu đi rõ rệt trong ba tuần. Bà không têm trầu nữa. Bà nằm, đầu kê cao trên hai cái gối, và khi Ngọc vào thì bà mở mắt, và phải mất mấy giây bà mới nhận ra.
"Con đấy à."
"Con đây ạ."
"Ngồi xuống đây." Bà đưa bàn tay ra, và Ngọc cầm lấy, và cái tay ấy nhẹ như một nắm lá khô. "Kể ta nghe."
Ngọc kể. Kể hết, không giấu cái gì, kể cả cái bốn hôm cô giấu.
Cô Diệu nghe hết, mắt nhắm.
"Ta hỏi con một câu," bà nói. "Con trả lời ngay, đừng nghĩ."
"Vâng."
"Con sợ nó, hay con sợ cái nó nói?"
Ngọc mở miệng, rồi ngậm lại.
"Đấy," cô Diệu nói. "Con nghĩ rồi."
Bà mở mắt ra nhìn cô.
"Con của trống đồng ạ. Ta sắp đi rồi, ta nói với con cái này. Cái con vật ấy nó nói với con một câu thật. Nó không bịa gì cả. Ngoài kia người ta vẫn gọi con sai, và con biết là người ta gọi sai, và suốt một tháng nay con đi khắp nơi bắt các làng phải gọi đúng tên thần của họ."
Bà siết tay cô, và cái siết ấy yếu đến mức Ngọc phải chú ý mới thấy.
"Mà chưa một lần nào con dám đòi người ta gọi đúng tên con."
Chú thích
1. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, người trông coi một điện thờ tư gia gọi là thủ nhang; việc truyền lại điện và truyền lại các mối quan hệ tín ngưỡng thường diễn ra khi thủ nhang đã cao tuổi hoặc yếu.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 18 →