Vọng về bãi giữa lúc gần nửa đêm, và anh biết có chuyện ngay từ lúc còn ở trên cầu.

Anh không nhìn thấy gì. Bãi giữa từ trên cầu Long Biên xuống thì tối om, chỉ có mấy đốm đèn ắc quy lẻ tẻ và cái ánh lân tinh của mặt sông. Anh cũng không nghe thấy gì.

Cái anh biết là cái khác. Cả cái bãi này, ba mươi tư năm nay, với anh vẫn là một chỗ ồn. Không ồn tiếng người. Ồn theo cái nghĩa của anh: sông Hồng chảy qua Hà Nội một nghìn năm, và một nghìn năm ấy thì cái gì trôi tới bãi này cũng dừng lại một chút. Người chết đuối. Người nhảy cầu. Người vô danh trôi từ thượng nguồn về. Bãi giữa lúc nào cũng có tiếng thì thầm, và Vọng đã quen ngủ với cái tiếng ấy như người ta quen ngủ cạnh đường tàu.

Đêm nay bãi im.

Anh xuống dốc, dắt xe đạp, đi men theo lối mòn giữa hai vạt ngô.

Nhà anh ở cuối bãi, một cái nhà tôn vách gỗ, sau nhà là bốn thùng ong. Anh nuôi ong không phải để bán mật. Anh nuôi vì ong là thứ duy nhất trên đời không sợ anh.

Cách nhà chừng ba chục bước, anh dừng.

Có người ngồi trên bậc cửa nhà anh.

Một thằng bé. Chừng mười ba mười bốn tuổi, gầy nhẳng, mặc áo phông rộng, chân đất, hai tay ôm gối. Nó ngồi im nhìn ra sông.

Vọng đứng yên trong bóng tối một lúc lâu.

Rồi anh dựng xe, và anh đi tới, và anh ngồi xuống bậc cửa cạnh thằng bé, cách chừng một sải tay.

"Chào cháu," anh nói.

"Chú Vọng ơi," thằng bé nói. "Chú có nước không, cháu khát."

Anh vào nhà, rót một ca nước, mang ra.

Thằng bé cầm bằng hai tay, uống, và uống xong nó lấy mu bàn tay quệt mép, đúng cái kiểu trẻ con ở bãi.

"Cháu tên gì?"

"Cháu là thằng Tí ở xóm bãi ạ," nó nói. "Nhà cháu ở đầu kia, chỗ có cây gạo."

"Ừ," Vọng nói.

Anh ngồi im.

Anh nhớ thằng bé ấy. Tất nhiên là anh nhớ. Tháng Bảy năm ngoái, nước lên, và một thằng bé ở xóm bãi ra sông vớt củi rồi không về. Người ta tìm ba ngày mới thấy ở tận dưới Bát Tràng. Đám ma làm vội vì trời nóng. Cả bãi đi đưa. Vọng cũng đi.

"Cháu ngồi đây lâu chưa?"

"Cháu chờ chú từ chiều," thằng bé nói. "Chú đi đâu mà lâu thế."

"Chú đi làm."

"Chú làm gì?"

Vọng quay sang nhìn nó.

Nó ngồi đấy, hai tay ôm gối, cằm gác lên đầu gối, mắt nhìn ra sông. Trăng chưa lên. Mặt nó chỉ là một cái bóng.

"Chú mở cửa," Vọng nói.

"Cửa gì ạ?"

"Cửa cho người ta về."

Thằng bé im một lúc.

"Chú ơi," nó nói. "Cháu hỏi cái này chú đừng cười cháu."

"Ừ."

"Sao cháu không về được?"

Vọng ngồi rất lâu.

Anh nghe tiếng nước ở dưới kia, tiếng một con tàu chở cát đi ngược lên, xa. Anh nghe tiếng bốn thùng ong sau nhà, cái tiếng ù ù rất khẽ của một tổ ong đang ngủ.

"Cháu về được," anh nói. "Cháu về được từ tháng Bảy năm ngoái rồi."

"Thế sao cháu vẫn ở đây?"

"Vì có người giữ cháu lại."

"Ai giữ ạ?"

Vọng quay sang.

"Cháu," anh nói.

Cái bóng bên cạnh anh không nhúc nhích.

"Nhà cháu năm ngoái làm ma cho cháu vội quá," Vọng nói. "Trời nóng, phải chôn ngay. Chú có đi đưa. Chú nhớ là hôm ấy mẹ cháu ngất hai lần."

"Mẹ cháu..."

"Rồi đến bốn chín ngày thì bà cháu mất," Vọng nói tiếp, chậm, đều. "Bà cháu ốm từ trước, chịu không nổi cái tang cháu. Nhà cháu nghèo, hai cái đám liền nhau, chú biết. Nên đến giỗ đầu thì bố cháu làm chung một mâm. Giỗ bà, giỗ cháu, một mâm."

Anh nhìn ra sông.

"Chú có sang. Chú thắp hương. Bố cháu khấn. Bố cháu khấn bà trước, khấn dài, rồi đến cháu thì bố cháu bảo là với cả cháu nó nữa."

Cái bóng bên cạnh anh bắt đầu run.

"Chú không trách bố cháu đâu," Vọng nói. "Người ta đau quá thì người ta gộp lại cho đỡ phải đau hai lần. Chú thấy nhiều rồi."

Anh quay sang.

"Nhưng cháu ạ. Từ cái hôm ấy thì trên đời này không còn một ngày nào là ngày riêng của cháu nữa."

"Chú đừng nói nữa," thằng bé nói.

Giọng nó đã đổi. Nó vẫn còn là giọng trẻ con, nhưng đằng sau cái giọng ấy đã có thêm mấy giọng nữa, lệch nhau nửa nhịp.

"Chú nói nốt," Vọng nói.

"Chú đừng."

"Cái đang ngồi đây không phải cháu," Vọng nói. "Cháu ơi, chú nói cho cháu nghe cái này, chú nói bằng cả cái nghề của chú. Cháu chết ở dưới Bát Tràng tháng Bảy năm ngoái, và cháu đã đi rồi. Cháu đi ngay hôm ấy, chú biết, vì chú có ra bờ sông chú tiễn."

Anh đứng dậy.

"Còn cái ngồi đây là cái mặc cái chỗ trống mà nhà cháu để lại."

Cái vật trên bậc cửa ngẩng lên.

Và bây giờ thì nó không giấu nữa. Cái mặt ấy vẫn là mặt một thằng bé mười ba tuổi, nhưng cái nhìn trong đó thì đã một nghìn tuổi, và nó nhìn Vọng bằng một cái nhìn mà anh chưa từng thấy ở bất cứ cái gì.

Nó nhìn anh thèm.

"Anh thì cũng thế thôi," nó nói.

Vọng đứng im.

"Anh Vọng ba mươi tư tuổi, ở bãi giữa, không vợ, không con, không hộ khẩu ở đâu cả." Nó đứng dậy khỏi bậc cửa, và nó đứng thấp hơn anh cả một cái đầu, và anh vẫn thấy lạnh. "Bố mẹ mất năm anh mười chín. Anh có một người chị, chị ấy đi lấy chồng trong Đà Nẵng, sáu năm nay không gọi. Cả cái bãi này gọi anh là thầy. Không ai gọi tên anh."

Nó nghiêng đầu.

"Anh thử nhớ xem lần cuối có người gọi tên anh là bao giờ."

Vọng không nhớ được.

Anh đứng đấy trước cái nhà tôn của mình, giữa cái bãi im lặng bất thường, và anh lục trong đầu, và anh không tìm ra.

Trong đội thì Ngọc gọi anh là anh Vọng. Nhưng "Vọng" không phải tên anh. Đó là cái tên người ta đặt cho anh từ hồi anh mười chín tuổi bắt đầu làm cái nghề này, vì anh hay ra bờ sông đứng vọng.

Tên thật của anh nằm trong giấy khai sinh, và giấy khai sinh nằm trong một cái hộp sắt dưới gầm giường, và trên đời này người cuối cùng gọi anh bằng cái tên ấy đã mất năm anh mười chín.

"Anh thấy chưa," cái vật nói, gần như dịu dàng. "Anh với tôi giống nhau. Cả hai đều đi lại bằng một cái tên không phải của mình."

Vọng nhắm mắt lại.

Anh đứng như thế mấy giây. Rồi anh mở mắt, và anh nói, rất rõ, vào cái khoảng không giữa anh với con sông:

"Thưa cháu Nguyễn Văn Tí, sinh năm hai nghìn mười hai, nhà ở xóm bãi chỗ cây gạo, chết đuối ngày hai mươi tháng Bảy năm ngoái, tìm thấy ở bến Bát Tràng ngày hai mươi ba."

"Đừng," cái vật nói.

"Giỗ cháu là ngày hai mươi tháng Bảy," Vọng nói to hơn. "Không phải ngày của bà cháu. Ngày ấy là ngày riêng của cháu, và từ năm nay chú nhớ hộ cháu."

Cái vật thét.

Vọng đã nghe cái tiếng ấy một lần ở sân đình Hạ Sen. Lần này nó gần hơn, và anh hứng trọn, và anh ngã ngồi xuống bậc cửa.

Khi anh mở được mắt ra thì trên nền đất trước nhà anh chỉ còn một vũng đen đang rút, và một cái ca nhựa lăn nghiêng, nước đổ hết.

Bốn thùng ong sau nhà đồng loạt vỡ tổ, cái tiếng ù dâng lên như tiếng máy.

Rồi từ dưới bờ sông, từ khắp cái bãi, cái tiếng thì thầm mà anh đã sống chung ba mươi tư năm quay trở lại, cả một lượt, ồ ạt, như nước tràn vào một cái hố vừa được lấp.

Vọng ngồi trên bậc cửa nhà mình và anh khóc, lần đầu tiên kể từ năm mười chín tuổi.

Sáng hôm sau anh gọi cho Ngọc lúc năm giờ.

"Thưa chị, bốn rồi ạ."

"Anh có sao không?"

"Tôi không sao." Anh ngồi im một lúc. "Thưa chị, tôi xin chị một việc."

"Anh nói đi."

"Từ hôm nay," Vọng nói, "chị gọi tôi bằng tên thật của tôi được không ạ."

Đầu dây bên kia im.

"Tên anh là gì?"

Và Vọng nói cái tên ấy ra, lần đầu tiên sau mười lăm năm, và anh phải nói hai lần vì lần đầu tiếng anh không ra khỏi cổ.

Chú thích

1. Bãi giữa sông Hồng ở Hà Nội là vùng đất bồi có dân cư sinh sống, phần lớn là dân ngụ cư, nhiều hộ không có hộ khẩu tại chỗ và sinh hoạt bằng điện ắc quy hoặc máy phát. 2. Theo tục lệ, người mất phải có ngày giỗ riêng; việc gộp giỗ nhiều người vào một ngày thường chỉ làm khi gia cảnh khó khăn hoặc các đám tang xảy ra quá gần nhau, và dân gian coi đó là điều chẳng đặng đừng.

Hết Chương 16
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 17 →
← TrướcTiếp →