Ngọc không kể với đội cái câu cuối cùng.
Cô kể hết mọi thứ khác. Kể người khách, kể cái chén trà, kể cái cặp da, kể nó xưng là cái xô hứng, kể nó bảo đừng xuống Voi Phục. Thư ghi kín ba trang. Lạc chửi thề hai lần. Vọng ngồi im nghe, và cuối cùng anh hỏi đúng một câu: "Thưa chị, nó có chạm vào chị không ạ." Ngọc bảo không.
Cô không kể cái câu ấy.
Cô tự nhủ là vì cái câu ấy không có giá trị chiến thuật. Nó chỉ là một lời khích. Kể ra thì mất thì giờ, và bốn người kia đang có việc phải làm.
Cô biết cô đang tự nói dối. Nhưng cô ngồi trong quán nhìn cả bốn người cắm cúi làm việc và cô nghĩ: nếu mình nói ra, thì từ ngày mai bốn đứa này sẽ nhìn mình khác. Và cô để cho cái câu ấy nằm lại một mình trong đầu cô.
Đó là cái sai đầu tiên. Cô sẽ trả giá cho nó ở tháng Hai.
Chủ tịch Đường tìm đến trước.
Đó là cái Ngọc không lường. Cô đã lên cả kế hoạch để tiếp cận cái công ty ấy, đã bàn với Trọng ba phương án, và tất cả đều thành thừa vào tối hai mươi chín tháng Giêng, khi một chiếc xe đen tấp vào đầu phố Hàng Buồm và một người đàn ông sáu mươi tuổi bước xuống, đi bộ tới quán cô, và ngồi phịch xuống cái ghế nhựa xanh gãy chân.
Cái ghế chao đi. Ông ta chống tay lên bàn cho khỏi ngã.
Ngọc nhận ra ông ta ngay, dù chỉ mới nhìn thấy mặt ông ta một lần, trong bốn giây, giữa khói và người, ở sân đền Bạch Mã đêm ba mươi Tết.
"Cô cho tôi ngồi nhờ," Đường nói.
Ngọc không rót nước cho ông ta. Đó là lần duy nhất trong đời cô làm thế.
"Ông đi một mình à?"
"Tôi cho lái xe về rồi." Ông ta nhìn quanh cái quán. "Tôi biết cô có thể giết tôi ở đây. Tôi tính rồi. Tôi vẫn tới."
"Ông tính sai," Ngọc nói. "Tôi không giết ông."
"Sao?"
"Vì ông không đáng để tôi mất một đêm ngủ."
Người đàn ông ngồi im. Rồi ông ta cười, một tiếng cười ngắn, khô.
"Cô nói giống hệt cái đứa hồi ba mươi Tết. Tôi cứ tưởng nó già hơn."
Ông ta nói suốt bốn mươi phút, và Ngọc để cho ông ta nói.
Ông ta nói về long mạch, về cái mạng lưới yểm của Cao Biền, về chuyện Trấn Long một nghìn năm nay không phải một hội mà là mấy chục cái hội rời rạc tranh nhau, và ông ta nói về cái phần việc của ông ta bằng cái giọng của một người đang trình bày báo cáo hội đồng quản trị.
"Sáu mươi tư cái đình," ông ta nói. "Tôi bỏ ra hai mươi mốt tỷ trong ba năm. Trùng tu thật, thợ giỏi, làm tử tế. Tôi không lừa ai cả."
"Ông lấy hòm sắc."
"Tôi mượn." Ông ta nói ngay, và Ngọc nghe ra rằng đó là một câu ông ta đã tự nói với mình nhiều lần. "Cô có biết một đạo sắc phong nó là cái gì không, cô Ngọc? Nó là một cái mốc. Triều đình phong cho một vị thần ở một cái làng cụ thể, ghi rõ tước hiệu, ghi rõ làng nào. Nó là cái ghim. Ghim một vị thần vào một chỗ đất."
Ông ta chồm tới trước.
"Tôi gom sắc là để biết cái mạng lưới ấy nó đi thế nào. Sáu mươi tư cái ghim thì vẽ ra được cả cái lưới. Tôi định vẽ xong thì trả lại hết. Tôi thề với cô là tôi định trả."
"Rồi sao ông không trả?"
Người đàn ông im.
Và bây giờ Ngọc mới nhìn kỹ ông ta, và cô nhận ra cái mà cô đã không để ý lúc ông ta bước xuống xe: hai tay ông ta run. Không phải run kiểu già. Run kiểu người ba đêm không ngủ.
"Vì tôi mở cái kho ra hồi tháng Chạp," Đường nói. "Để kiểm kê. Cuối năm thì phải kiểm kê."
"Rồi sao?"
"Sáu mươi tư cái hòm," ông ta nói. "Tôi đếm đủ sáu mươi tư. Nhưng bên trong thì thiếu."
"Thiếu bao nhiêu?"
"Không phải thiếu hòm, cô ạ." Ông ta ngẩng lên. "Thiếu sắc. Hai mươi mốt cái hòm bị rút ruột. Sắc trong ấy biến mất. Hòm vẫn khóa. Niêm vẫn nguyên. Kho có camera, có bảo vệ, có sổ ra vào. Không ai vào."
Ngọc thấy cái lạnh quen thuộc chạy dọc hai cánh tay.
"Ông có báo công an không?"
"Cô đùa à," ông ta nói. "Tôi báo cái gì? Tôi báo là tôi mất mấy chục đạo sắc phong tôi lấy trộm của các làng à?"
Ông ta lấy khăn tay lau mặt.
"Tôi cho người kiểm ba lần. Lần thứ ba thì thằng trưởng kho nó không đi làm nữa. Nó xin nghỉ, nó chuyển nhà, nó đổi số. Tôi cho người tìm thì..."
"Thì nó vẫn ở đấy," Ngọc nói. "Vẫn đi làm bình thường. Chỉ có điều nó không còn là nó."
Chủ tịch Đường nhìn cô, và mặt ông ta xám lại.
"Sao cô biết?"
"Vì tôi đã gặp bốn cái rồi," Ngọc nói.
"Cô nghe tôi nói cho hết," Đường nói, và giọng ông ta bắt đầu vỡ ra ở chỗ nào đó. "Tôi làm cái nghề này bốn mươi năm. Tôi đi với Cao Biền tám năm. Tôi biết tôi là cái gì, cô đừng có giảng cho tôi. Nhưng tôi luôn biết tôi đang làm với ai."
Ông ta đặt hai bàn tay lên bàn để giữ cho chúng khỏi run.
"Ba năm nay tôi tưởng tôi thuê người ta. Cái đoàn đi khảo sát ấy, cái bọn dựng bảng đá ấy, cái thằng cán bộ đi ký nghiệm thu giúp ấy. Tôi trả lương cho họ. Tôi ký duyệt cho họ. Tôi ngồi họp với họ hàng tháng."
Ông ta ngẩng lên.
"Tuần trước tôi giở lại hồ sơ nhân sự. Tôi muốn xem cái thằng ký nghiệm thu ấy là ai."
"Rồi sao?"
"Không có hồ sơ nào cả," Đường nói. "Không hợp đồng, không lương, không bảo hiểm, không một cái gì. Trong hệ thống của tôi, cái người ấy chưa bao giờ tồn tại."
Ông ta cười, và cái cười ấy làm Ngọc thấy tội nghiệp ông ta bất chấp mọi thứ.
"Cô biết cái làm tôi sợ nhất không, cô Ngọc? Không phải chuyện mất sắc. Là chuyện tôi ngồi họp với nó ba năm mà tuần trước tôi mới nghĩ ra là phải kiểm tra nó."
"Ông muốn gì ở tôi?" Ngọc hỏi.
"Tôi muốn cô lấy lại hộ tôi."
"Ông định trả lại các làng thật à?"
"Tôi định sống," Đường nói thẳng. "Cô nghe cho rõ, tôi không tử tế lên đâu. Tôi sáu mươi tuổi, tôi có hai đứa cháu, tôi không muốn ba tháng nữa có một thằng nào đó đi lại trong cái nhà tôi bằng cái mặt tôi và ru cháu tôi ngủ."
Ông ta rút trong túi áo ra một cái thẻ từ, đặt lên bàn.
"Kho B2. Thẻ này vào được cửa ngoài. Cửa trong thì phải có vân tay tôi, tôi sẽ xuống cùng."
"Sao ông không tự lấy?"
"Vì tôi không dám xuống đấy một mình nữa," Đường nói.
Ngọc nhìn cái thẻ trên bàn. Cô không cầm.
"Ông Đường," cô nói. "Hai mươi mốt cái làng ấy bây giờ không nhớ nổi tên thần của mình. Tôi đứng ở sân đình Hạ Sen ngày rằm, tôi nhìn một ông cụ bảy mươi tám tuổi đứng trước cả làng mà không xưng nổi một cái tên."
"Cô đổ cho tôi à?"
"Không." Ngọc nhìn thẳng vào mắt ông ta. "Cái quên ấy có từ trước ông. Ông chỉ là thằng mở cửa. Nhưng ông mở, và ông mở vì tiền, và ông đừng có ngồi đây nói với tôi là ông định trả."
Cô cầm cái thẻ lên.
"Tôi lấy cái này. Không phải để cứu ông. Để trả cho các làng."
Chủ tịch Đường ngồi im một lúc. Rồi ông ta gật đầu.
"Thứ Ba tuần sau," ông ta nói. "Ba giờ sáng. Đấy là lúc kho vắng nhất."
Ông ta đứng dậy, và cái ghế nhựa lại chao đi, và ông ta phải chống tay lần nữa.
Đi được mấy bước, ông ta quay lại.
"Cô Ngọc này," ông ta nói. "Cái đêm ở Bạch Mã, cô đánh trống. Tôi có nghe."
Ngọc không nói gì.
"Tôi chạy ra tới cửa đền thì tôi nghe được cái tiếng ấy," Đường nói, "và tôi nói thật với cô, tôi đứng lại mất mấy giây. Tôi sáu mươi tuổi, tôi không tin cái gì cả, mà tôi đứng lại."
Ông ta nhìn cô.
"Cô cứ giữ lấy cái ấy. Vì tôi thì tôi hết rồi. Tôi đứng lại có mấy giây rồi tôi vẫn chạy tiếp."
Chú thích
1. Sắc phong ghi rõ tước hiệu vị thần và tên làng xã được phép thờ phụng, nên trên thực tế nó vừa là văn bản phong tặng vừa là căn cứ xác nhận nơi thờ chính thức của một vị thần.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 16 →