Nó đến vào một buổi chiều mưa phùn, hai mươi bảy tháng Giêng, và nó đến bằng cách tử tế nhất trên đời: nó ngồi xuống và gọi một chén trà.

Ngọc đang rửa chén ở cái chậu sau quầy. Cô nghe tiếng ghế nhựa kéo, ngẩng lên, thấy một người đàn ông đứng tuổi ngồi vào cái bàn con sát tường, tay xách một cái cặp da đen đã cũ, áo sơ mi trong áo khoác, đầu tóc chải gọn.

"Cho tôi chén trà nóng."

Ngọc rót.

Cô đặt chén xuống trước mặt ông ta. Cô không hỏi gì cả, vì cô không hỏi bao giờ.

Ông ta uống một ngụm, đặt chén xuống, và nhìn ra phố. Mưa phùn bám lên mấy cái mái tôn bên kia đường thành một lớp ẩm mờ. Có một bà đi xe đạp chở hoa cúc đi qua.

"Trà cô ngon," ông ta nói. "Ướp nhài thật hay nhài hương?"

"Nhài thật ạ. Cháu ướp lấy."

"Ừ. Nghe là biết ngay." Ông ta gật gù. "Bây giờ ít người ướp lắm. Mất công."

Ngọc rửa nốt chén. Cô úp chúng lên cái khay inox, lau tay vào khăn, và cô ngồi xuống cái ghế của cô, bên cạnh phích nước, như mọi ngày.

Rồi cô nói:

"Anh Huy bảo là người ấy ngồi ở mép giường mà không làm lún cái đệm."

Người đàn ông không giật mình.

Ông ta chỉ quay lại, và ông ta cười, một cái cười thật, ấm, hơi ngượng, đúng cái cười của một ông cán bộ về hưu bị bắt quả tang nói dối chuyện vặt.

"Tôi ngồi ghế nhựa thì không sao," ông ta nói. "Đệm mới khó."

Ngọc không đứng dậy. Cô không gọi ai. Cô ngồi yên, và cô nhận ra tim mình đập chậm hơn bình thường, chậm một cách kỳ lạ, cái kiểu chậm của người vừa hiểu ra rằng chạy cũng vô ích.

Đội đi hết. Lạc ở Hà Nam. Thư ở viện. Vọng ở bãi giữa. Trọng đang ngủ ca ngày.

Chỉ có cô và một cái quán nước và một người khách.

"Cô không sợ," nó nói. Có vẻ nó thật sự thấy thú vị. "Tôi ngồi mấy chỗ rồi, chưa ai không sợ."

"Tôi sợ," Ngọc nói. "Nhưng ông đang uống trà của tôi."

"Thì sao?"

"Thì ông là khách."

Nó nhìn cô một lúc lâu.

"Cô biết không," nó nói. "Đấy là cái tôi tới để xem."

Nó xoay cái chén trên bàn.

"Tôi đã đi vòng qua cái quán này sáu lần rồi, cô Ngọc ạ. Từ hồi trước Tết. Sáu lần tôi đứng ở đầu phố nhìn cô rót nước cho người ta, và sáu lần tôi không vào được."

"Sao lại không vào được?"

"Vì cô không hỏi tên ai cả," nó nói.

Nó đặt chén xuống.

"Cô thử nghĩ mà xem. Cả cái đất này, chỗ nào tôi tới người ta cũng hỏi. Anh là ai, anh ở đâu, anh con nhà ai, anh tìm ai. Người ta hỏi vì người ta cần biết chỗ nhét mình vào. Mà hễ người ta hỏi thì tôi trả lời được, vì tôi trả lời cái người ta đang đợi nghe. Hỏi là tôi vào."

Nó nhìn cô.

"Còn cô thì không hỏi. Cô cứ rót. Cô để một người lạ ngồi xuống hàng cô mà không cần biết nó là cái gì. Tôi đứng ngoài kia sáu lần và tôi không biết phải luồn vào chỗ nào."

"Thế mà hôm nay ông vẫn vào."

"Vì hôm nay tôi không luồn nữa. Hôm nay tôi gõ cửa." Nó nhún vai. "Tôi tới nói chuyện tử tế với cô. Nói xong tôi về."

"Ông muốn gì?"

"Tôi muốn cô đừng xuống Voi Phục," nó nói.

Ngọc không đổi nét mặt. Nhưng bên trong cô, một cái gì đó vừa sập xuống: nó biết họ đã lần ra.

"Tôi biết cô nghĩ gì," nó nói. "Cô nghĩ tôi định phá cái đền ấy. Cô cứ nghĩ thế cũng được, tôi không cãi. Nhưng tôi nói cho cô nghe cái này, và cô muốn tin hay không thì tùy."

Nó cúi người tới trước một chút.

"Tôi không phá đền bao giờ. Tôi có phá cái đình nào của các người không? Cô đi mà xem lại hai mươi mốt cái đình ấy. Cái nào cũng đẹp hơn trước. Ngói mới, xà mới, sân sạch. Tôi giữ chứ tôi có phá đâu."

"Ông lấy tên đi."

"Cái tên thì có ai dùng đâu," nó nói.

Và nó nói cái câu ấy không giễu cợt. Nó nói bằng cái giọng cay đắng của người bị oan.

"Cô Ngọc, cô nghe tôi. Cái làng Hạ Sen ấy, bà Nhu về dạy nghề cho họ từ đời nảo đời nào. Bốn trăm năm. Đến năm ba tám thì họ vẫn còn khai được tên bà. Rồi sau đấy thì sao? Có ai bào cái bài vị ấy trong sáu mươi năm không? Không ai cả. Vậy mà đến năm hai không hai, khi tôi tới, thì trong cả cái làng ấy chỉ còn đúng bốn người biết bà tên gì. Bốn. Cô nghe rõ chưa. Tôi tới sau, cô ạ. Tôi không làm cho họ quên. Họ quên trước rồi tôi mới tới."

"Ông giết cụ Đàm."

"Cụ Đàm chết trong lúc ngủ, tháng Chạp, tám mươi tuổi," nó nói. "Tôi tới sau ba ngày. Cô đi mà hỏi Vọng nhà cô xem tôi có nói dối không."

"Ông để cụ ấy nằm hai tháng không ai biết."

"Tôi giữ cho làng ấy được yên hai tháng," nó nói. "Cô muốn tôi ra giữa sân đình hô lên là ông từ chết rồi à? Để làm gì? Để họ chôn ông ấy rồi sang tháng lại quên tên ông ấy nữa?"

Nó ngả người ra sau ghế.

"Cô cứ nhìn tôi như nhìn con dao," nó nói. "Tôi không phải con dao đâu, cô Ngọc. Tôi là cái xô hứng. Chỗ nào các người làm đổ thì tôi hứng."

Ngọc ngồi im rất lâu.

Ngoài phố, mưa phùn dày lên một chút. Có tiếng còi xe. Có tiếng ai đó gọi nhau ở nhà đối diện.

"Ông nói xong chưa?" cô hỏi.

"Chưa."

"Thế thì nói nốt đi."

Nó cầm chén trà lên, uống hết, đặt xuống. Rồi nó lấy trong ví ra một tờ tiền, đặt lên bàn, và vuốt cho phẳng.

Cái động tác ấy làm Ngọc lạnh dọc sống lưng, vì cô đã thấy nó một lần rồi, ở một người khách khác, một buổi sáng khác.

"Tôi nói nốt chỗ này thôi," nó nói. "Cô đừng xuống Voi Phục, vì cô xuống đấy thì cô sẽ phải đứng ra giữa chỗ đông người, và cô không nên đứng ra."

"Sao lại không nên?"

"Vì cô không chịu nổi cái người ta sẽ gọi cô đâu," nó nói.

Nó đứng dậy, xách cái cặp da.

"Cô nghĩ cô đã rửa xong cái tên của cô rồi phải không. Cái đêm ở Bạch Mã ấy." Nó cài lại khuy áo khoác, thong thả. "Cô rửa được với năm đứa trong cái đội của cô thôi, cô Ngọc ạ. Còn ngoài kia thì y nguyên. Cô ra ngoài đường kia cô hỏi mười người, cả mười người vẫn nói với cô đúng cái câu người ta nói suốt một nghìn năm."

Nó nhìn cô, và lần đầu tiên trong cả buổi chiều ấy, mắt nó không còn cái vẻ ấm áp nào nữa.

"Chào cô nhé," nó nói. "Chào cô Mỵ Châu."

Rồi nó đi ra, bước xuống lòng đường, và đi khuất trong mưa phùn ở chỗ ngã tư.

Ngọc ngồi lại một mình.

Cô nhìn cái chén nó vừa uống. Cô nhìn tờ tiền nó vuốt phẳng trên bàn.

Rồi cô đứng dậy, cầm cái chén ấy đem ra chậu, và cô rửa nó ba lần.

Đến lần thứ ba thì tay cô mới bắt đầu run, và cô phải đặt cái chén xuống, hai tay bám vào thành chậu, và cô đứng đấy một lúc lâu, cúi đầu, thở.

Vì nó nói đúng.

Cô đã tưởng đêm Bạch Mã rửa xong. Cô đã đi suốt cái mùa đông ấy với cái ý nghĩ rằng cái án nghìn năm đã được gỡ, rằng cô đã được trả lại tên.

Mà cái đêm ấy có ai đứng đấy đâu. Có năm người. Năm người trong một đội.

Ngoài kia là tám mươi triệu người, và tám mươi triệu người ấy vẫn đang gọi cô bằng cái tên cũ, và họ gọi rất chắc chắn, và họ không hề biết là họ đang gọi ai.

Cái lốt ấy vẫn trống.

Và bây giờ đã có kẻ đo nó rồi.

Chú thích

1. Trong dân gian, trà ướp hoa nhài tươi (ướp lấy tại nhà, thay hoa nhiều lần) được phân biệt rõ với trà tẩm hương liệu; đây là cách ướp cũ, tốn công, nay ít người làm.

Hết Chương 14
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 15 →
← TrướcTiếp →