Phòng đọc lạnh, và Thư thích cái lạnh ấy.
Con bé đến từ lúc mở cửa. Nó điền phiếu yêu cầu, nộp thẻ, ngồi xuống cái bàn dài kê sát cửa sổ, và trong lúc đợi, nó làm cái việc nó vẫn làm ở mọi phòng đọc trên đời: nó ngồi im và nghe.
Tiếng quạt trần. Tiếng một cái xe đẩy tài liệu lăn ở hành lang. Tiếng giấy. Có ba người khác trong phòng, hai ông già và một chị chừng ba mươi, ai cũng cúi xuống bàn mình, và không ai nói.
Thư yêu cái chỗ này theo cái kiểu người ta yêu một chỗ đã cứu mình. Năm thứ hai đại học, con bé suýt bỏ học. Nó không kể chuyện ấy với ai trong đội. Cái giữ nó lại là ba tháng ngồi ở một cái phòng đọc y như thế này, chép tay một tập văn bia, và cái cảm giác nó có được vào tháng thứ ba, cái cảm giác rằng có những thứ người ta viết ra bốn trăm năm trước mà bây giờ trên đời chỉ còn mình nó đang đọc.
Tài liệu được mang ra lúc chín giờ mười.
Thư ngồi trước tập tư liệu và nó không mở ngay.
Nó lấy bút chì ra, để bên phải. Nó lấy sổ, mở sẵn trang mới, ghi ngày. Nó lau kính. Rồi nó mới mở.
Và cái đầu tiên đập vào mắt nó không phải chữ. Là nét chữ.
Người khai phiếu làng Hạ Sen năm một chín ba tám viết bằng bút sắt, nét gầy, chữ nghiêng, và ông ta viết đẹp. Ông ta viết cái kiểu của một người có học chữ nho rồi mới học quốc ngữ, tức là ông ta cầm bút như cầm bút lông, và những chữ có nét sổ dài thì ông ta kéo hơi quá tay.
Thư ngồi nhìn cái nét chữ ấy một lúc, và nó nghĩ: ông này đã chết lâu rồi. Ông này ngồi viết cái phiếu này ở đình làng hoặc ở nhà ông lý trưởng, chắc là buổi tối, chắc là có đèn dầu, chắc là có mấy cụ ngồi quanh nhắc cho ông viết. Rồi cái phiếu được gửi lên. Rồi ông chết. Rồi chiến tranh. Rồi cái đình bị đảo ngói, bị dựng bảng đá, bị bào bài vị.
Và tám mươi tám năm sau, một con bé hai mươi hai tuổi ngồi trong một cái phòng đọc ở Hà Nội, đọc cái ông đã viết.
Thư hít vào, và nó đọc.
Nó mất bốn mươi phút cho phần thần tích, vì nó đọc kỹ, và vì đến giữa chừng thì tay nó bắt đầu run và nó phải đặt bút chì xuống hai lần.
Phiếu ghi: làng Hạ Sen, tổng ấy, phủ ấy, tỉnh Hà Đông. Làng có nghề dệt vải, dệt từ đời nào không rõ.
Đình làng thờ một vị.
Vị ấy là nữ.
Vị ấy là người đã đem nghề dệt về cho làng, dạy dân trồng dâu, đánh sợi, mắc khung. Vị ấy không phải người bản quán; vị ấy từ nơi khác đến, ở lại, dạy nghề, rồi mất ở làng. Dân làng nhớ ơn, lập đình thờ làm Thành hoàng. Các đời sau có sắc phong.
Và ở dòng dưới, người khai viết tên.
Đàm Thị Nhu.
Thư ngồi rất im.
Con bé đọc lại ba chữ ấy. Rồi nó đọc lại lần nữa. Rồi nó gỡ kính ra, và nó ngồi đấy trong cái phòng đọc lạnh, và nó phải cắn vào bên trong má mình để không phát ra tiếng.
Không phải vì nó tìm được cái tên.
Là vì cái họ.
Cụ Đàm.
Đàm Văn Hối, xóm Đoài, sinh năm bốn mươi sáu, quét cái sân đình ba mươi năm, mất đêm hai mươi tháng Chạp, nằm hai tháng trong nhà khóa ngoài không ai sang.
Thư ngồi trong phòng đọc và nó ráp hai cái lại với nhau, và cái nó ráp ra được thì nó không muốn ráp.
Người quét cái sân của bà, ba mươi năm, mỗi ngày, không lương, không ai bảo, là con cháu của bà.
Ông ấy không biết. Cả làng không biết. Cái họ Đàm ở xóm Đoài thì làng nào chả có mấy nhà, và không ai nghĩ tới chuyện hỏi.
Ông ấy chỉ biết là cái sân của ngài thì không được để bẩn.
Thư đeo kính lại, và nó ghi vào sổ, và chữ nó xấu đi thấy rõ so với mọi khi:
Đàm Thị Nhu. Nữ. Tổ nghề dệt. Không phải người bản quán.
Cụ Đàm Văn Hối, người quét sân, họ Đàm.
Nó không biết cái này. Nếu nó biết thì nó đã không giết ông cụ.
Rồi nó dừng bút, và nó gạch cái dòng cuối đi, vì nó không có bằng chứng nào cho cái ấy cả, và nó tự dặn mình cái điều nó vẫn tự dặn: cái mình muốn tin thì không phải cái mình biết.
Buổi chiều nó xin xem thêm.
Nó xin phiếu của Đông Trù. Rồi phiếu của mấy làng lân cận. Rồi nó xin thêm nữa, và người ta bảo nó mỗi lần chỉ được lấy một số lượng nhất định, và nó xin lỗi, và nó ngồi lại làm việc với cái nó đang có.
Đến bốn giờ chiều thì Thư có một cái bảng trong sổ. Ba cột.
Cột một: tên làng.
Cột hai: năm 1938 làng khai thờ ai.
Cột ba: hôm nay làng gọi là gì.
Với Hạ Sen thì cột hai là Đàm Thị Nhu, cột ba là "đức ông".
Với Đông Trù thì cột hai là một vị nữ khác, một bà có công đắp đê, có tên, có sự tích, có ba đạo sắc. Cột ba, theo cái Thư ghi được hôm ở làng, là "thánh mẫu bản cảnh".
Con bé nhìn cái bảng ba cột ấy rất lâu.
Rồi nó ghi thêm một dòng dưới cùng, và khi ghi xong nó ngồi thẳng lên, và nó thấy tim mình đập ở cổ.
Cả hai vị đều là NỮ. Cả hai đều bị đổi thành một danh xưng chung không có giới tính hoặc sai giới tính.
Không phải nó chọn bừa. Nó chọn cái dễ quên nhất.
Thư gấp sổ. Nó ngồi im một phút. Rồi nó mở ra ghi nốt cái ý cuối cùng, cái ý làm nó lạnh sống lưng:
Người khai năm 38 là hương lý, khai cho Tây đọc. Có làng chắc đã giấu bớt vị. Nghĩa là cái phiếu này không phải sự thật.
Nghĩa là chỗ nào phiếu và làng khớp nhau, cũng chưa chắc là sạch.
Mình đang có một cái máy dò, và cái máy ấy chỉ dò được một chiều.
Sáu giờ, Thư gọi cho Ngọc từ vỉa hè trước cổng.
"Chị ơi em có tên rồi ạ."
Nó nghe thấy tiếng Ngọc thở ra ở đầu dây bên kia.
"Em đọc đi."
"Đàm Thị Nhu ạ," Thư nói. "Bà tổ nghề dệt. Bà không phải người làng, bà từ nơi khác đến, bà dạy nghề cho làng rồi bà mất ở đấy."
"Ghi lại chưa?"
"Rồi ạ. Em chụp, em chép tay, em ghi âm em đọc lại một lần nữa." Thư dừng. "Chị ơi còn một chuyện."
"Nói đi."
"Cụ Đàm ạ." Con bé nói, và giọng nó vỡ ra ở chữ thứ hai. "Ông cụ quét sân ấy. Ông cụ họ Đàm chị ạ."
Đầu dây bên kia im rất lâu.
"Em đang ở đâu?"
"Em ở cổng viện ạ."
"Em đứng đấy," Ngọc nói. "Chị bảo anh Lạc lên đón. Em không phải đi xe buýt về đâu."
"Em đi được mà chị."
"Thư," Ngọc nói. "Em đứng đấy."
Và Thư đứng đấy, ở vỉa hè, ôm cái ba lô nặng trước ngực, giữa dòng người tan tầm, và con bé khóc một trận rất ngắn và rất dữ, cái kiểu khóc của người đã nhịn từ chín giờ mười sáng nay.
Chú thích
1. Phiếu điều tra thần tích thần sắc năm 1938 do người trong làng khai, thường là hương lý hoặc người biết chữ, rồi gửi lên; vì vậy đây là lời khai đương thời, có giá trị tư liệu rất lớn nhưng không phải hồ sơ gốc, và có thể thiếu sót so với thực tế thờ tự của làng. 2. Nhiều làng nghề ở Bắc Bộ thờ tổ nghề làm Thành hoàng hoặc thờ phối, trong đó có không ít vị là nữ, gắn với các nghề dệt, tằm tang, làm bánh, làm gốm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 12 →