Ba hôm sau, giông kéo từ biển vào. Nó không đến bằng mây đen như người ta tưởng mà bằng một thứ ánh sáng đục màu đồng, phủ lên cửa sông từ phía chân trời, và bằng tiếng gió đổi hướng, lật ngược lá bần để lộ mặt trắng bên dưới. Ông đang ngồi trong gian nhà lá, lưng quay ra hiên, hai tay lấm dầu, tháo cái bugi của chiếc máy đuôi tôm. Hai Thơm đi chợ chưa về.

"Ba, giông kìa."

"Ba thấy."

"Con ra hiên coi."

"Ừ."

"Ba sửa máy hả?"

"Ba sửa máy."

"Mai máy chạy được hông?"

"Chạy."

Ngoài hiên nước, thằng Tí đang chạy, cái áo thun xanh của nó phồng lên trong gió như cánh buồm con.

Ông nghe tiếng chân nó thình thịch trên ván. Rồi gió ập tới, một cái vỗ mạnh vào vách lá làm cả căn nhà rung lên, và ông nghe nó la, vui, kêu lên "nón con", rồi tiếng chân đuổi theo, rồi tiếng ván trượt.

Rồi chỉ còn tiếng gió.

Ông không nhớ mình bỏ cái bugi xuống bằng cách nào. Ông chỉ nhớ nước, lạnh, ập vào mặt, đục màu trà, và hai chân ông đạp xuống mà không chạm đáy. Ông lặn, mở mắt, thấy khoảng tối nâu đặc. Ông ngoi lên. Ông lặn lần nữa. Mưa đã đổ, từng hạt to đập lên nước nghe như hàng nghìn ngón tay gõ vào cái trống.

Ông hít một hơi thật sâu và lặn xuống lần nữa.

Khi ông ngoi lên lần thứ tư, Hai Thơm đã đứng trên hiên, giỏ cá khô vẫn trên tay, nón rơi mất, tóc dính bết vào má.

"Ba thằng Tí."

"Nó ngã xuống."

"Ở đâu?"

"Chỗ mé hiên."

"Bao lâu?"

"Tôi không biết."

"Đèn pin. Dây. Xuồng."

"Em lấy đèn. Anh lấy xuồng."

Chị chạy đi trước khi ông kịp đáp. Chỉ trong ít phút, cả xóm ào ra: ông Tám Ghe với cây sào dài, hai thanh niên khiêng cuộn lưới, bà Sáu Nước với cái đèn bão, ông giáo già cuối xóm dắt thằng cháu cầm đèn pin, và tiếng người, tiếng xuồng va cột, tiếng nước tạt tan vào mưa thành một thứ ồn lớn không có nghĩa.

"Chia ra!" ông Tám la. "Mỗi xuồng một hướng!"

"Hướng nào ông?"

"Theo dòng! Nước đang ròng!"

"Nó còn gần hiên thôi!"

"Chưa chắc!"

"Rọi ra cồn!"

"Rọi rồi, không thấy!"

"Dây đâu, dây!"

"Dây đây!"

"Ai biết bơi thì xuống!"

"Xuống rồi! Nước đục quá, hổng thấy gì!"

"Bà con chia hai tổ!"

"Tổ nào tui theo?"

"Theo ông Tám! Ổng biết chỗ nước dồn!"

Ông leo lên xuồng ông Tám Ghe, quét đèn pin ra sông. Tia sáng hẹp, vàng, cắt qua màn mưa, rọi lên lục bình, rọi lên một cái nón lá úp.

"Ông thấy gì?" ông Tám hỏi.

"Cái nón."

"Của ai?"

"Của con tôi."

"Tui vớt lên."

"Để đó."

"Ông chắc?"

"Chắc."

"Nó là cái nón thằng nhỏ hồi chiều hả?"

"Để đó."

Ông quét ánh đèn sang chỗ khác.

Đêm xuống. Mưa tạnh dần nhưng gió vẫn lồng lộn, và nước trên cửa sông đen như mực, chỉ còn những chùm đèn pin lia qua lia lại như ngón tay người mù. Không ai gọi tên nó. Ghe nào có còi thì thổi, từng hồi ngắn, rồi tắt máy lắng nghe, rồi thổi, từ ghe này sang ghe khác, và tiếng còi đi xa trên mặt nước tối.

Không ai đáp.

Hai Thơm ngồi ở mũi một chiếc xuồng nhỏ, quấn khăn ướt, tay cầm cây đèn pin lia theo mặt nước. Chị không khóc, không la. Đèn đi một vòng, dừng, rồi đi thêm một vòng. Ông chèo xuồng áp sát vào xuồng chị, mũi hai chiếc chạm nhau nghe một tiếng gỗ khẽ.

"Anh nghỉ chút đi."

"Không mệt."

"Anh uống nước đi."

"Ừ."

Chị đưa bình nước. Ông uống một ngụm, trả lại.

"Anh biết nước," chị nói.

"Biết."

"Nước dồn về đâu?"

"Cồn cát cạnh cửa."

"Xa không?"

"Một giờ chèo."

"Vậy anh đi."

"Chờ nước ròng."

"Em chờ."

"Em ở nhà."

"Em ở đây."

Ông không nói thêm. Chị gõ. Ba nhịp, nghỉ.

Gần sáng, khi sao đã tan và bầu trời ngả màu chì, ông trở về hiên nhà một mình, nước nhỏ giọt từ vạt áo. Thầy Bảy Lưới đã đứng sẵn ở bậc thang tre, cái nón rách xuống tận mày, một chiếc xuồng chèo nhỏ đậu bên cạnh. Thầy không nói gì. Thầy cúi xuống, lấy cây sào dài trong xuồng, đưa cho ông.

"Thầy."

Thầy không đáp.

"Con đi."

Thầy gật.

"Nước ròng giờ nào, thầy?"

"Năm giờ mười."

"Con đi trước giờ nước."

"Ừ."

"Thầy ở với bả."

"Ừ."

"Thầy có cần gì không?"

"Không."

"Con cám ơn thầy."

"Cám ơn làm gì."

"Dạ."

Ông cầm sào. Ông đứng trong căn nhà lá, hai gian, mái nhỏ nước còn nhỏ từng giọt, đèn dầu cháy leo lét ở góc. Cái nón nhỏ của Tí không còn trên móc. Cái lon sữa bò bẫy ốc nằm lăn lóc ngoài thềm, sợi dây cước còn quấn ở miệng lon. Ông bước ra nhặt nó lên, dựng đứng trên bậc, rồi mới quay vào. Hai Thơm vẫn ngồi trên xuồng ngoài hiên, không vào.

"Em vào nhà đi," ông gọi qua cửa.

"Em ngồi đây."

"Lạnh."

"Em quen."

"Anh đi trước giờ nước."

"Anh mang áo."

"Ừ."

"Mang cả sổ."

"Ừ."

"Em có nấu nồi cháo trên bếp."

"Ừ."

"Anh ăn ít."

"Ừ."

"Anh nói ừ hoài."

"Ừ."

Ông ngồi xuống chiếu, giữa hai gian nhà còn mùi dầu máy và mùi nước mưa, nơi mới chiều nay thằng Tí còn ngồi hỏi máy chạy được hông. Ông lấy cuốn sổ bìa vải dầu ra khỏi chỗ giấu, mở trang cuối, giấy mốc nơi mép và mực loang thành những quầng tím nhạt, bàn tay vẫn ướt nên ông lau vào vạt áo, rồi lau thêm lần nữa. Ông cầm bút.

Ngày. Giờ nước. Chỗ vớt, ông để trống. Dấu hiệu: áo thun xanh, quần xà lỏn, sẹo nhỏ ở đầu gối trái. Tên nếu biết.

Ông ghi cái tên đầu tiên của người ông thương vào dòng thứ hai trăm mười một, bằng chữ nhỏ, thẳng hàng: Tí.

Hết Chương 83
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 84 →
← TrướcTiếp →