Chiều xuống chậm ở bến cửa. Con đê mới đổ xi măng chạy dọc bờ sông, trắng và phẳng, còn thơm mùi vữa, và dưới chân nó những cây bần cũ nghiêng ngả, rễ bám vào lớp bùn như bám vào một điều chưa hứa. Xa xa, cái loa ấp treo trên cột điện phát một bài nhạc cũ, đứt từng đoạn, rồi chuyển sang giọng đọc tin giá cá, và mỗi lần chiếc ghe về bến, tiếng máy nổ chen lẫn vào cả hai thứ, làm cái chiều thành một mớ âm thanh chồng lên nhau mà ai cũng quen.
Quán nước của bà Sáu nằm đúng chỗ đê quặt, mấy cái bàn nhựa kê dưới tấm bạt, ly nước sâm đặt trên mặt bàn lấm tấm nước, đá tan dần thành những vòng mỏng quanh thành ly. Người ngồi đông. Mấy ông chủ ghe vừa về, tay còn tanh cá. Một bà bán vé số ngồi nhờ ghế, cái nón úp lên đầu gối. Ở bàn trong cùng, sát vách, người vớt xác ngồi với ly nước sâm chưa uống, nhìn ra sông. Ông đến đây mỗi khi xuồng cần đổ xăng, ngồi một chút trước khi về, và dân bến quen thấy ông như quen thấy cây cột neo: không ai chào, không ai hỏi, ông có đó là đủ. Ngoài kia, trên đường ranh nước hai màu, một chiếc ghe cá rẽ ngang, tiếng máy hạ xuống một nhịp rồi đổi giọng.
"Ông Tám," bà Sáu Nước nói lớn, tay vẫn kỳ cọ cái ấm, "nước ông tui lấy hai nghìn."
"Hai nghìn gì, hôm qua một nghìn rưỡi."
"Hôm qua đá rẻ."
"Đá rẻ tui trả rẻ."
"Ông này." Bà cười, tiếng cười sang sảng của người đàn bà năm mươi tám đã bán nước ở bến này gần bốn chục năm. "Ngồi xuống đi, tui kể chuyện cho nghe."
"Chuyện gì?"
"Chuyện chín cửa."
Mấy cái đầu quay lại. Bà Sáu chùi tay vào tạp dề, kéo một cái ghế, ngồi xuống giữa quán, và giọng bà đổi hẳn, chậm lại, đều đều, như đọc thuộc lòng.
"Chín cửa là chín con rồng. Con nào ra cửa nấy, không con nào quay đầu. Hồi trời đất mới chia, con rồng mẹ đẻ chín con, chín con bò ra biển, mỗi con đi một ngả, nên sông mới chia chín nhánh."
"Rồi sao?" một người hỏi.
"Rồi con nào cũng sống ở cửa mình, ai mà quấy thì nó nổi giận."
"Chín cửa mà giờ còn bảy," ông Tám Ghe chen vào, tay quơ ly nước.
"Hai con ngủ."
"Ngủ?"
"Ngủ. Rồng ngủ thì cửa lấp. Chớ có phải chết đâu."
"Vậy có ngày nó dậy hả bà?"
"Dậy hay không là chuyện của nó."
Cả quán cười, tiếng cười ròn của những người ngày nào cũng ngồi dưới một tấm bạt, nhìn một con sông, và bằng lòng với cái nhìn ấy. Người vớt xác không cười. Ông đặt hai bàn tay lên mặt bàn, nứt nẻ, đen vì nước muối, rồi để ngón cái tay phải chạm lần lượt vào từng đốt ngón, đếm khẽ trong họng, những cử động nhỏ đến mức không ai để ý.
Bà bán vé số ngồi nhờ ghế lúc đó mới lên tiếng, cái nón vẫn úp trên đầu gối.
"Bà Sáu, hồi tui nhỏ má tui kể đâu có rồng. Má tui nói chín cửa thì chín cửa, vậy thôi."
"Má bà kể thiếu."
"Thiếu, hay bà kể dư?"
"Kể dư thì đã sao. Có rồng thì chuyện mới ra chuyện." Bà Sáu xoay cái ấm trong tay, nhìn ra sông một hồi, rồi hạ giọng xuống, không còn cái giọng đọc thuộc lòng lúc nãy. "Mà nói thiệt, nghe đâu xưa có người đếm tám."
"Tám?" Ông Tám Ghe trợn mắt. "Tám thì con rồng thứ chín bà cất đâu?"
"Tui đâu biết. Người ta nói sao tui nói lại vậy. Hỏi thì đi mà hỏi con sông. Nó chảy ngang đây cả đời, nó biết."
"Ai đếm tám?"
"Người xưa. Người xưa đếm sao thì người xưa biết."
"Vậy rốt cuộc chín hay tám, bà?"
"Ông chạy ghe ba chục năm, ông đếm thử coi."
"Tui chạy có một cửa, đếm cái gì."
"Thì đó." Bà Sáu cười, vỗ đùi mình một cái. "Ai ra cửa nào biết cửa nấy. Đếm cho đủ là việc của người ngồi không."
Cả quán lại cười. Không ai thắng, không ai thua. Ông Tám Ghe lắc đầu, uống cạn ly nước sâm, đặt hai nghìn lên bàn, đứng dậy đi ra ghe. Bà bán vé số đội nón lên, đi theo sau ông một quãng, vừa đi vừa rao, tiếng rao lẫn vào tiếng loa và tiếng máy ghe. Một lúc sau, chiếc ghe của ông Tám nổ máy, chạy ngang qua đường ranh hai màu, và tiếng máy đổi giọng một nhịp như mọi chiếc ghe khác, rồi nhỏ dần về phía cửa, chỉ còn một vệt nước trắng nằm lại trên mặt sông.
Người vớt xác nhìn ly nước chưa uống của mình, đá đã tan hết, mặt ly chỉ còn một lớp nước lợt. Ông không nói điều gì với bà Sáu hay với ai. Ông không đứng về bên nào. Ông chỉ ngồi, bàn tay phải đặt lên bàn, và một lần nữa ông gập từng ngón.
Bảy cửa còn thở, ông đếm. Ông xòe bảy ngón, mỗi ngón một cửa, từ cửa nhỏ nhất ở trên tới cửa rộng nhất ở dưới, đọc thầm tên chúng như đọc tên những người ông đã vớt. Rồi ông gập thêm một ngón nữa, ngón thứ tám, và nghĩ tới cái cửa bị bùn lấp từ lâu, nơi không còn ghe nào ra vào, chỉ còn một con lạch nhỏ chảy quanh cồn cát. Rồi ngón thứ chín, cái cửa mà người ta đã đóng bằng cống, nước ngọt đứng một bên, nước mặn đứng một bên, hai bờ nhìn nhau qua cánh cửa sắt mà không ai qua được.
Chín.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 82 →