Buổi trưa hôm sau, nhà người đánh cá ở xóm cuối đã dọn xong. Đó là một căn nhà sàn dựng bằng cột tràm, vách lá, mái lá dừa nước thay đã nhiều lần nên chỗ xanh chỗ nâu, phía trước có cái thang tre dẫn xuống một bến nhỏ buộc ba chiếc xuồng. Sàn nhà trải chiếu cói, gian giữa kê một cái bàn thờ bé, ảnh người đàn ông mặc áo caro nâu đặt cạnh bình hoa giấy, và nắng xiên qua khe vách rọi từng vệt vàng lên mâm cơm đã bày sẵn.
Mâm đơn sơ, nhưng đủ. Một nồi cá kho tộ còn bốc khói, một thau canh chua bạc hà, một dĩa rau sống, một chén nước mắm ớt, và cơm trắng xới đầy ngay ngắn trong từng cái chén sứt miệng. Nhà nghèo, nhưng chén nào cũng rửa sạch, đũa nào cũng lau khô. Ngoài sân, vài người hàng xóm đứng tụm dưới tàu dừa, đàn ông đội nón, đàn bà khoanh tay, không ai bước lên thang, chỉ nhìn vào bằng cái nhìn người ta dành cho một thứ cần được kính nể mà không cần được hiểu. Thằng nhỏ nhà bên chạy ngang, bị mẹ kéo lại, khẽ giật tay áo.
Người vớt xác ngồi đầu mâm, vì người ta mời ông ngồi đó. Ông không từ chối. Ông mặc cái áo sơ mi bạc màu giặt sạch nhất mình có, ống tay dài, cổ tay cài nút. Bên phải ông là bà Năm, người đàn bà góa gầy nhỏ, hai mắt sưng, tóc búi gọn và chải ướt. Bên trái là ông cụ, cha của người đã mất, bảy mươi chín tuổi, lưng còng, râu bạc, ngồi xếp bằng như một cái rễ cây. Anh Út ngồi đối diện, im.
"Mời ông ăn," bà Năm nói.
"Dạ, cám ơn bà."
"Ông ăn đi, đừng ngại."
"Dạ, tôi không ngại."
"Ông gắp thêm cá."
"Dạ, tôi gắp."
"Cá kho nhà tui hơi mặn."
"Mặn vừa."
"Canh hơi chua."
"Chua vừa."
Bà Năm cười, một nụ cười ngắn, run, rồi cúi xuống gắp cho ông miếng cá to nhất, đặt lên chén cơm ông, tay bà hơi rung. Ông cầm đũa. Ông ăn chậm, nhai kỹ, như người ăn trong nhà người khác đã quen. Không ai nhắc tiền. Không ai nói về chuyện vớt. Mấy chục năm nay ông chưa từng ngồi vào một mâm nào mà người ta không hỏi ông nhà có mấy con, vợ làm nghề gì, nghề này cực không, nhưng hôm nay không ai hỏi gì. Họ nhìn ông ăn.
"Ổng ăn khỏe," ông cụ nói bất thình lình.
"Dạ," bà Năm đáp.
"Con nó hồi nhỏ ăn ba chén."
"Dạ, ba chén."
"Giờ ổng nằm yên rồi." Ông cụ gắp một cọng rau, chấm nước mắm. "Tui nói cho ông biết, ông vớt."
"Dạ, bác nói."
"Tui ở cửa sông này bảy mươi chín năm. Tui thấy nhiều người đi, nhiều người về. Cái cửa nó không đòi gì hết. Nó đưa người ta ra, nó đưa người ta vô, nó không giữ."
"Dạ."
"Nhưng ra tới cửa là hết đòi."
Anh Út ngẩng lên, nhìn ông cụ, rồi nhìn xuống chén. Bà Năm khẽ mím môi. Người vớt xác đặt đũa xuống, nhẹ, gác ngang miệng chén.
"Bác nói đúng."
"Ông biết?"
"Tôi biết."
"Ông biết từ khi nào?"
"Từ hồi theo thầy."
"Thầy ông là ai?"
"Bảy Lưới."
"À." Ông cụ gật, chậm, và hai con mắt đục của ông lóe lên một cái rồi tắt. "Ổng vớt xác cha vợ tui hồi đó. Ổng nói ít."
"Dạ, thầy nói ít."
"Ông cũng nói ít."
"Dạ, tôi nói ít."
"Ông có ghi sổ không?"
"Dạ có."
"Ghi tên con tui hả?"
"Ghi."
"Ghi sao?"
"Ngày, giờ nước, chỗ vớt, dấu hiệu, tên. Rồi người nhận, rồi tiền công."
"Tiền công ghi chi?"
"Ghi một mâm."
"Mâm hôm nay?"
"Mâm hôm nay."
Ông cụ nhìn cái mâm, nhìn nồi cá kho đã vơi quá nửa, nhìn mấy chén cơm không còn hạt. Một lúc lâu, ông không nói gì.
"Vậy ghi cho đúng," ông cụ nói.
"Dạ."
"Ghi là canh chua, cá kho."
"Dạ, tôi ghi."
"Đừng ghi là mặn."
"Dạ, tôi ghi vừa."
Anh Út bật ra một tiếng cười nghẹn, rồi quay mặt vào vách. Bà Năm đưa tay áo lên chùi mắt, thật nhanh, như chùi bụi.
Cả bàn lại im. Ngoài sàn, nước ròng đang rút, nghe tiếng bọt vỡ lách tách quanh cột nhà. Có một con cò đậu trên mép bến, rồi vỗ cánh bay đi. Ông ăn hết chén cơm, đặt xuống, và bà Năm đã xới chén khác trước khi ông kịp từ chối.
Khi mâm đã dọn, ông đứng dậy, cúi chào ông cụ, cúi chào bà Năm, rồi bước ra ngưỡng cửa. Bà Năm đi theo sau, lấy từ vách xuống một túi nilon nhỏ buộc chặt bằng dây thun, bên trong là muối hột trắng ngà, đầy cỡ một nắm tay.
"Ông cầm cái này."
"Dạ, không cần."
"Nhà tui chỉ có vậy."
Ông nhìn cái túi, rồi nhìn bà. Có những lần ông từ chối món lớn, tiền, vàng, một con heo, nhưng chưa bao giờ ông từ chối món nhỏ ấy, vì ông biết một người nghèo đưa món nhỏ là đưa tất cả những gì họ có. Ông đưa hai tay ra nhận.
"Cám ơn bà."
"Ông đi cẩn thận."
"Dạ."
"Mai ông còn đi vớt không?"
"Nước ròng thì đi."
"Nước ròng thì đi," bà lặp lại, như học thuộc một bài học nhỏ.
Ông xuống thang tre, từng nấc, chân trần đặt lên thanh tre đã mòn nhẵn bởi bao lượt người lên xuống. Trên bến, chiếc xuồng của ông nằm ngay chỗ nước ròng chưa rút hết, mũi chạm bùn. Ông đặt túi muối vào ngăn đựng sổ, cạnh cuốn sổ bìa vải dầu, rồi quay lại nhìn lên cái thang.
Ông cụ đã chống gậy ra tới ngưỡng cửa, đứng cao hơn ông nửa thân người, mắt hướng ra cửa sông, nơi hai màu nước gặp nhau ở xa thành một đường mảnh.
"Ông vớt được người ta về là phước. Ra tới cửa thì người ta mất rồi."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 81 →