Hôm sau trời nóng đến mức nhựa me rịn ra thành giọt trên thân cây ngoài cổng công đường, và gạch lát sân rát tới nỗi mấy con chó của lính gác phải nằm hết vào bóng hiên, lưỡi thè, hai bên sườn phập phồng, và ruồi bu quanh cái lu nước bên cổng thành từng đám. Người đàn bà đã đứng ở đó từ lúc nắng lên. Bà không ngồi, không dựa, không xin vào, chỉ đứng ở rìa bóng cây me, nơi bóng vừa đủ che đứa nhỏ buộc sau lưng mà không đủ che bà, hai tay ôm một gói lá chuối đã nguội, và lính gác ba lần đến bảo bà đi, ba lần bà gật rồi vẫn đứng.

Bà tên Lay, ba mươi sáu tuổi, vợ người bị giam. Gói lá trên tay bà là cơm nắm và một con cá khô nướng sém, bà mang lên từ sáng cho chồng, và lính nói tù chưa được nhận cơm nhà trước ngày phán. Bà không cãi. Bà đứng giữ cái gói ấy như giữ một thứ không có chỗ để, và đứa nhỏ trên lưng bà, hai tuổi, má ướt mồ hôi, ngủ gục rồi tỉnh, ngủ gục rồi tỉnh.

Chiều xuống, sân công đường dịu bớt. Trống canh nổi ở chòi gác một tiếng, rồi hai tiếng, và ông Ny bước ra cổng, túi vải đeo vai, kính một mắt vẫn còn trên mặt, đi chậm hơn mọi chiều. Bà Lay thấy ông. Bà bước ra khỏi bóng cây, từng bước ngắn, vì đứa nhỏ nặng, và đứng chắn lối ông một sải.

"Ông thư lại."

"Bà cần gì?"

"Tôi là vợ ông Sam."

"Tôi biết."

"Ông biết?"

"Bà đứng ở cuối sảnh hai ngày."

"Dạ." Bà Lay cúi đầu một cái rất ngắn. "Tôi nghe người ta nói giấy ghi chồng tôi bỏ chạy."

"Ai nói?"

"Anh lính gác cổng."

"Anh ta không đọc giấy."

"Dạ. Nhưng anh ta nghe người đọc giấy."

Ông Ny im. Mồ hôi chảy dọc thái dương ông, vào dưới vành kính, rịn xuống khóe mắt, và ông không đưa tay lau.

"Giấy ghi chồng tôi sao, ông?"

"Giấy ghi theo lời người làm chứng."

"Chồng tôi không bỏ chạy." Giọng bà không cao, nhưng nghe như một sợi dây căng. "Ổng quỳ xuống ôm người ta. Ổng la người ta tới. Ổng chưa bỏ chạy lần nào trong đời, không bỏ chạy cả khi nước lên ngập thuyền."

"Tôi chỉ chép."

"Ông có thấy mặt chồng tôi không?"

"Có."

"Ổng giống người bỏ chạy không?"

"Tôi không phải quan."

"Dạ. Ông không phải quan."

"Ông chép. Vậy ông đọc cho tôi nghe."

"Giấy ở trong kho."

"Tôi mang cơm cho ổng. Lính nói chưa được nhận. Ông nhận giùm tôi được không?"

"Tôi không có quyền."

"Dạ."

"Bà mang về đi."

"Dạ. Cơm nguội rồi, ông."

"Tôi biết."

"Mai là ngày phán, phải không ông?"

"Phải."

"Người ta nói phán xong là chở đi."

"Tôi không biết."

"Dạ. Ông không biết."

"Ông nhớ không?"

Ông Ny nhớ. Ông nhớ từng dòng, từng chữ, nhớ cả vệt mực loang ở đầu dòng thứ chín, nhớ ngón cái nâu của Sak ấn xuống cuối trang. Đứa nhỏ trên lưng bà Lay cựa mình, mở mắt, nhìn ông qua vai mẹ bằng đôi mắt đen to, chưa biết sợ ai.

"Ông đọc dòng nói về chồng tôi."

Ông đưa tay lên tới vành kính, đẩy nó lên sống mũi, dù nó chẳng trượt. Cổ họng ông khô. Trống canh vang tiếng thứ ba, thứ tư, và nắng chiều đổ lên nửa mặt ông thành một vệt đỏ.

"Giấy chép đúng lời người làm chứng."

Bà Lay nhìn ông. Bà không hỏi thêm. Có một lúc lâu, giữa họ chỉ có tiếng cành me kêu khẽ và tiếng đứa nhỏ mút ngón tay, rồi bà gật, rất chậm, một cái gật của người đã hy vọng bằng hết sức và nay đặt hy vọng xuống như đặt một đứa con ngủ.

"Vậy là ông Sak nói vậy."

"Giấy chép đúng lời người làm chứng."

"Tôi cảm ơn ông."

"Bà không cần cảm ơn."

"Ông có con không?"

"Một đứa con gái."

"Lớn chưa ông?"

"Hai mươi chín."

"Dạ. Con tôi hai tuổi." Bà Lay xốc nó lên cao hơn. "Ông chịu nghe tôi nói. Người ta đâu chịu."

Ông Ny mở miệng, rồi khép lại. Bà Lay cúi đầu lần nữa và quay đi. Bà đi qua sân chậm, tay vẫn ôm gói lá chuối chưa trao được cho ai, vai hơi nghiêng vì sức nặng của đứa nhỏ, và cái bóng của bà kéo dài ra trên gạch, mỏng, nghiêng, càng lúc càng xa chiếc cổng.

Đứa nhỏ nhìn ông qua vai mẹ, và nhìn mãi, không chớp, cho tới khi bà rẽ khỏi ngõ. Ông Ny đứng ở cổng. Ông đứng cho tới khi trống canh dứt tiếng cuối, cho tới khi lính gác đóng cánh cửa lớn phía sau lưng, cho tới khi bóng cây me hợp vào bóng nhà, và phía tây bầu trời đổi từ đỏ sang tím. Ông đứng với túi vải trên vai, với chiếc kính một mắt trên mặt, với mắt trái nheo như mọi chiều.

Rồi ông đi xuống bậc đá sau công đường, tháo dây hai nút, bước xuống thuyền nhỏ, và chèo.

Nhánh sông chiều nay chảy ngược chiều ông. Nước đẩy vào mạn thuyền, sương bắt đầu rơi, hai bờ lùi xa thành hai dải đen, và mỗi nhát chèo ông phải gồng lưng gù lên mới nhích được một đoạn. Trời tối dần. Tiếng ếch nổi lên ở hai bờ, từng tiếng lẻ rồi từng đợt, và xa xa phía thượng nguồn một ngọn đèn thuyền chài nhấp nháy rồi tắt. Đèn bên kia sông còn xa. Ông không tháo kính. Suốt quãng đường chèo ngược nhánh về gian nhà gỗ, ông đeo chiếc kính một mắt trên mặt, dù trời đã tối đến mức qua nó chẳng còn nhìn thấy gì.

Hết Chương 64
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 65 →
← TrướcTiếp →