Một chữ. Cả đời ông Ny thư lại rốt cuộc treo vào một chữ ngắn tới mức mắt đọc lướt thì bỏ qua, và vì chữ ấy mà người chép đúng nhất công đường phải ra đứng ở chỗ bốn nhánh sông gặp nhau, đợi một thứ không bao giờ về.
Sáng nào ông cũng đi từ bờ bên kia. Nhà ông là một gian gỗ cất sát nhánh sông, không có cầu, nên ông tự chèo một chiếc thuyền chỉ vừa một người, đầu thuyền vá bằng miếng ván khác màu, và chèo sang khi sương còn nằm dày trên nước. Ông cập vào bậc đá sau công đường lúc tiếng trống canh năm vừa dứt, buộc dây hai nút, rồi đứng lên cái dáng của người lưng gù cố đứng thẳng, và kéo sợi dây ở ngực để chiếc kính một mắt rơi vào hõm mắt phải. Mắt trái của ông nheo lại. Nó đã nheo như vậy từ ngày ông cầm bút trong gian phòng thiếu sáng ấy, và không có buổi sáng nào làm nó mở ra.
Trên bậc đá đã có người ngồi đợi, chân đong đưa, tay cầm hai nắm cơm gói lá.
"Ông Ny đi chậm hôm nay."
"Tôi đi như mọi ngày."
"Mọi ngày thuyền ông tới trước tiếng trống một hơi thở. Hôm nay sau hai hơi."
"Chú đếm thuyền tôi?"
"Tôi vào làm mới hai mươi hôm, ông. Phải đếm gì đó cho đỡ buồn."
"Chú đếm thuyền tôi thì thà đếm chữ."
"Chữ thì ông đếm rồi." Chhay nhảy xuống bậc, đưa một nắm cơm ra. "Bà bán cơm đầu ngõ gói dư, bảo ông gầy."
"Tôi không gầy."
"Bà bảo ông gầy thì ông gầy. Bà bán cơm mà."
Ông Ny nhận nắm cơm, nhét vào túi vải, và hai người đi vào qua cửa sau. Gian chép nằm cuối hành lang, một cái bàn dài đủ cho bốn người ngồi, nghiên mực nâu, mấy cây bút lau vót nhọn cắm trong ống tre, và trên bàn một xấp giấy sợi còn ẩm, mùi giấy lẫn mùi mực, mùi sáp ong từ cây nến đặt ở đầu bàn. Ông Ny ngồi xuống chỗ của ông, chỗ có một vệt lõm mòn trên mép gỗ, đúng bằng cổ tay.
"Mở giấy ra. Dòng đầu."
"Dạ, kinh thành..."
"Không phải kinh thành. Tên."
"Tên dài lắm ông."
"Dài thì viết dài."
"Tôi viết thiếu mấy chữ cuối, quan trên có biết đâu."
"Giấy biết."
"Giấy có biết gì."
"Giấy không biết. Tôi biết."
Chhay cười, nhưng ông Ny không cười, nên anh ngưng. Ông đưa bút lên, chưa chấm mực, và đọc tên đầy đủ của kinh thành, cái tên bắt đầu bằng nơi bốn dòng sông mang lại hạnh phúc và thành công, dài tới hai hơi, ông phải ngừng giữa chừng để lấy hơi rồi đọc nốt, không vấp, không bỏ một chữ, và đọc xong ông gật đầu một cái với chính mình. Cái gật ấy rất nhỏ. Chhay thấy, và không hỏi.
"Giờ chú đọc lại."
"Ông muốn tôi đọc lại cả cái tên?"
"Cả cái tên."
Chhay đọc. Anh vấp ở chữ thứ chín, sửa, vấp ở chữ thứ hai mươi, sửa lại, và khi anh xong, ông Ny nói: "Chép đi," thế thôi, nhưng giọng ông có chút gì mềm.
Gần trưa, một bản lời khai tới, của người nông dân cãi nhau chuyện ranh ruộng với người anh họ, ba tờ, chữ viết nguệch của viên chức ghi tại chỗ. Ông Ny chép. Bút lau sột soạt trên giấy sợi, mực nâu loang rồi định, và ngón giữa của bàn tay phải ông, ngón có cái chai tròn bằng hạt đậu, trượt đều theo từng dòng. Xong mỗi dòng, ông ngưng bút, nheo mắt, đọc lại. Một lần cho mắt, một lần cho tai, ông thì thầm hết dòng, rồi mới sang dòng kế.
Chhay ngồi đối diện, chép bản của mình, và nhìn ông qua mép giấy suốt từ sáng.
"Ông đọc hai lần mỗi dòng."
"Ừ."
"Tôi đọc một lần cũng xong."
"Chú xong. Giấy chưa xong."
"Giấy có bị mệt đâu."
"Người đọc giấy thì có."
"Ai đọc?"
"Quan đọc. Rồi giấy vào kho, ông Thy cất, ai cần thì người ta xuống kho đọc tại chỗ, đọc đúng cái tôi chép." Ông nhúng bút. "Họ không hỏi tôi. Họ đọc chữ."
Chhay im một lúc, bút dừng trên giấy.
"Ông còn chép thư thuê, tối nữa."
"Một tờ được hai."
"Lương ông bốn trăm một tháng với hai bao gạo, tối chép thêm mỗi tờ được hai, ông giàu hơn nhà quan."
"Tôi không giàu hơn ai."
"Vậy sao ông không bỏ chữ nào cho nhanh? Chép nhanh thì chép thêm được thư."
Ông Ny đặt bút xuống. Ông nhìn Chhay qua cái kính một mắt, bằng con mắt mở, và Chhay lần đầu thấy mắt phải ấy to hơn mắt trái rất nhiều, sáng, ướt, như mắt của người mỗi ngày đều nhìn một thứ rất kỹ.
"Chú nghĩ tôi giỏi?"
"Dạ, tôi nghĩ ông có tài."
"Tài là cái trời cho. Hôm có, hôm không. Tôi không có tài." Ông cầm bút lên lại. "Chép đúng là nghề. Không phải tài."
"Khác nhau chỗ nào?"
"Tài thì có hôm hết. Nghề thì ngày nào cũng làm được, kể cả hôm mỏi."
Chhay không đáp. Anh cúi xuống bản của mình, đọc một dòng, rồi nhẩm lại lần hai, ngập ngừng, như người thử mặc một cái áo lớn hơn mình.
Giữa chiều, ông Ny chép xong, thổi nhẹ lên giấy cho mực khô, xếp ba tờ ngay ngắn và đứng dậy đi rửa bút ở lu nước ngoài sân. Khi ông ra khỏi cửa, ông Thy bước vào, lưng cúi, hai bàn tay run rẩy như tay người đang bưng chén nước đầy, chùm chìa khóa kho đeo ở thắt lưng kêu khẽ.
"Giấy của ông Ny đâu?"
"Dạ trên bàn."
Ông Thy cầm ba tờ lên, đưa gần mắt, môi mấp máy theo từng dòng. Ông tìm một chỗ sửa, một chỗ gạch, một vết mực nhòe, và không thấy.
"Không sửa một chữ nào."
"Dạ, ông ấy không sửa bao giờ."
"Hai mươi mốt năm."
"Dạ. Ông Ny chép tay như in."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 61 →