Mùa nước thứ ba, bà Sok ra điểm giữa hồ khi trời chưa có màu gì, và ngồi xuống đầu xuồng, quay mặt về phía đông. Mùa thứ tư bà cũng ra như thế, và mùa nào bà cũng ra như thế, từ lúc nước bắt đầu hạ cho tới lúc nó hạ hết, và hồ trở lại là một vùng đất nứt nẻ có trâu đi qua.

Việc đầu tiên của mỗi buổi sáng là cái gáo, trước cả khi bà xuống xuồng. Bà đứng ở bậc khô cuối cùng của cái thang, cầm đèn soi xuống chân cột, nhìn dây. Dây căng về phía tây thì bà ngồi chờ. Dây căng về phía đông thì bà cũng ngồi chờ. Chỉ khi dây buông xuống, thẳng như một sợi chỉ rọi, gáo đứng trên mặt nước không nghiêng về đâu cả, thì bà mới bước ngược lên thang, nhìn đồng hồ treo vách, cái đồng hồ pin bà mua của một người đi bán rong, mỗi tuần bà chỉnh kim một lần theo giờ đọc trên đài. Xong rồi bà mới xuống xuồng, chèo ra điểm giữa hồ, ngồi tới sáng.

Mùa thứ ba, dây thẳng khi sao mai còn treo trên ngọn dừa nhà ông Tep. Mùa thứ tư, dây thẳng sớm hơn một chút, và bà ghi nhớ không bằng chữ, vì bà biết đọc mà viết chậm, bà ghi bằng cách đếm: bốn giờ, bốn giờ bảy phút, bốn giờ kém năm. Số nào bà cũng giữ, như giữ những đồng bạc lẻ trong túi vải, đồng nào cũng nhỏ, đồng nào cũng có chỗ của nó.

Dần dần bà học ra những dấu khác, những dấu không cần tới đồng hồ. Tiếng nước dưới sàn đổi. Trước lúc dòng đứng, nó vỗ vào cột thành từng tiếng dài, có nhịp như một bài hát ru. Đến lúc dòng đứng, nó im, im hẳn, như một người vừa nín thở để nghe một tiếng động xa. Rồi nó vỗ lại, ngắn hơn, nhanh hơn, theo chiều khác. Bà nằm trên chõng nghe nó từ đêm nọ sang đêm kia, và chỉ cần nghe một nhịp là biết nó đã đứng, đang đứng, hay sắp đứng.

Lá sen cũng thế. Khi dòng còn chảy, lá nghiêng về một phía, mép lá cuốn lên như những cái tai nghe. Khi dòng đứng, lá thẳng ra, phẳng như đĩa, cả một thảm sen nằm yên trong cùng một nhịp thở. Bà ngồi giữa hồ nhìn chúng, đếm lá. Mười hai lá nghiêng, mười lá nghiêng, bảy lá nghiêng, ba lá, một lá. Rồi không lá nào.

Bà đếm cả bọt. Bọt nổi lên từ đáy hồ thành từng chùm nhỏ, và lúc dòng chảy mạnh thì chúng chạy nhanh qua mạn xuồng, lúc dòng yếu thì chúng trôi chậm, rồi dừng, rồi xoay tròn tại chỗ như những đứa trẻ không biết đi đâu. Bà đếm số bọt chạy qua trong một hơi thở. Hai mươi. Mười ba. Năm. Một. Không.

Bà đếm cả ngày. Bà nhìn nước trên cái thang, và cái hôm nước thôi lên, nằm yên ở một bậc, bà bắt đầu đếm từ hôm ấy. Mùa thứ ba, mười một ngày sau thì dòng đứng. Mùa thứ tư, mười hai ngày. Bà cộng ngày như cộng tiền cá, ngày nào nước còn bò lên thêm một ngón tay thì bà đếm lại từ đầu.

Cứ thế, mỗi mùa bà thêm một con số vào chỗ cất của mình, mà không nói với ai.

Rith vá thuyền cho người khác. Nhà nào trong xóm có chiếc thuyền thủng thì mang tới, đặt dưới gầm sàn, đứng chờ ông nhìn, ông gõ vào thân gỗ nghe tiếng, ông lắc đầu hoặc gật đầu, rồi ông bắt tay vào việc. Ông lấy công ít, có khi chỉ lấy một nải chuối hay một xâu cá. Hai bàn tay ông ngày một nứt thêm. Bà Sok đưa ông hũ mỡ trăn bôi tay, và ông nhận, bôi, rồi trả lại, không nói gì, vì giữa hai người đã có một thói quen: cái hũ đi qua đi lại như một người đưa thư.

Mỗi mùa ông cũng ngồi ở bậc thang đợi bà. Mùa thứ ba, ông hỏi bà thấy gì không, và bà nói chưa. Mùa thứ tư, ông chỉ nhìn bà về, nhìn tay bà buộc xuồng, rồi nhìn xuống nước. Ông thôi hỏi từ bao giờ, bà không nhớ, vì sự thôi hỏi ấy đến như nước hạ, từng gang một, không ai thấy nó hạ cho tới khi những vòng bùn đã đầy thân cọc.

Vuthy lớn. Mùa thứ ba nó chưa tới vai mẹ, mùa thứ tư nó đã cao hơn, và giọng nó đục, trầm, giống giọng cha một cách lạ lùng. Nó thôi ngồi ở bậc thang. Nó học cách đứng dựa cột, hai tay đút túi, mắt nhìn ra chỗ nào đó trong cái hồ mà bà không nhìn tới. Cuối mùa thứ tư nó nói với mẹ, qua bữa cơm, rằng năm sau nó muốn đi học nghề ở trên thành phố, và bà gật đầu, gắp cho nó một miếng trứng, và nó ăn.

Chanthy không ai nhắc. Cái muỗng dừa to hơn lòng bàn tay vẫn nằm ở góc gian giữa, không ai dọn, không ai đụng. Mỗi sáng bà quét nhà đều quét quanh nó, như quét quanh một cái cọc. Vết đo chiều cao trên vách, những vạch bút chì Chanthy bắt Vuthy kẻ cho nó mỗi dịp nước lên, vẫn còn đó, bảy vạch, vạch cuối cùng ngang bằng chỗ bà đứng thì tới ngực. Bà quét ngang qua vách, không dừng, không nhìn, và mỗi ngày bà quét xong thì vạch ấy vẫn ở chỗ cũ, và bà thì ở chỗ của bà, cách nó một sải tay. Khoảng trống ấy không rộng ra, không hẹp lại. Nó đều đặn như giờ cơm.

Ngoài chợ, người ta thôi nói. Bà Mao thôi nói trước, rồi những bà bán rau, rồi những người mua cá, và cái sạp của bà trở lại là cái sạp của một người bán cá khô, cân đủ, thối đủ, không bớt không thêm. Có một ông khách quen hỏi: nghe nói bà ra hồ mỗi năm, năm nay bà có ra không. Bà đáp có. Ông hỏi bà ra làm gì. Bà đáp xem nước. Ông không hỏi thêm. Ông lấy hai ký cá, trả tiền, và đi.

Mùa thứ tư, chừng mươi hôm sau ngày dòng đứng, bà ra điểm lần cuối trong năm. Hồ mở rộng ra trước mặt bà, một tấm thiếc bạc lớn đến nỗi không thấy bờ nào, xa tít chỗ đường chân trời mỏng và nhòe. Chim bay thành đàn về phương nam. Dòng đã đứng từ mấy hôm trước, giờ nước chỉ còn rút, chậm và đều. Bà không đếm gì. Bà ngồi cho tới khi mặt trời lên khỏi ngọn dừa nhà ông Tep, rồi chèo về.

Bà tháo gáo ra khỏi mặt nước. Nước từ cái gáo chảy thành giọt xuống tay bà, lạnh. Bà treo nó lên cột, trên mức bùn, nơi nó sẽ khô trong mùa nắng. Rồi bà đứng thẳng lên, lau hai bàn tay ướt vào vạt áo, mỗi tay một lần.

Hết Chương 53
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 54 →
← TrướcTiếp →