Mưa đến rồi mưa đi, và ở Si Phan Don người ta đếm mùa không phải bằng ngày mà bằng nước. Nước đục dâng lên từng bậc cầu thang bến, ngập chân cọc đá, ngập hết những hòn đảo thấp, rồi nằm lì ở đó một thời gian, rồi rút xuống, để lại trên mỗi thân cây một vệt bùn ngang đầu người. Suốt mùa ấy mái lán rỉ nước xuống nền đất, và ba mươi mốt mảnh gỗ phải kê cao lên bốn khúc cọc tre cho khỏi mục.

Khamphan sống ở đó. Sáng anh ngồi dưới hiên bà Thong vá lưới thuê, mười lăm một tấm. Tay anh nhẹ dần theo từng tấm, và các bà trong bến nhìn ngón cái bẹt luồn qua mắt lưới rồi lặng lẽ để thêm một tấm vào chồng. Trưa anh nhóm bếp ba hòn đá sau lán, nấu một nồi cơm nhỏ bằng gạo mua bằng tiền lưới, ăn với cá khô và muối hột. Muối thì mỗi tuần một gói, thằng Ton đem xuống, đặt lên ngưỡng rồi chạy. Dầu thì nửa tháng một chai.

Thip xuống vào những buổi không phải đi học. Nó không mang gì theo. Nó ngồi cạnh cha dưới hiên, xin một cây kim tre, và bà Thong đưa cho nó tấm lưới rách nhất, bảo vá hỏng cũng không ai trách. Nó vá hỏng hai tấm. Tấm thứ ba nó vá được. Khamphan không dạy. Anh chỉ vá chậm lại, đủ chậm để con nhìn thấy tay mình.

Anh không còn thuyền, không còn dao, và bao da nơi thắt lưng vẫn đeo đó, trống.

Và đêm nào cũng vậy, khi bến đã tắt đèn, anh thắp cây đèn dầu, trải ba mươi mốt mảnh gỗ ra nền lán, và bắt đầu.

Anh sắp chúng theo số. Số than đã trôi gần hết, nên anh sắp theo những gì còn đọc được, một gạch đứng, hai gạch chéo, một nét ngang mờ như sợi tóc. Mười bốn mảnh còn đọc được. Mười bảy mảnh không. Anh sắp theo chiều, dài một phía, ngắn một phía. Anh sắp theo mép, mép nhẵn cạnh mép nhẵn, mép sứt cạnh mép sứt, và ngón cái bẹt miết dọc từng mép, một lần, hai lần, như người mù đọc chữ.

Rồi anh nối. Khớp này vào khớp kia, đầu mảnh này vào đuôi mảnh nọ. Có khớp vào ngọt, kêu một tiếng tách nhỏ như hạt thóc nứt. Có khớp vào được nửa chừng thì kẹt, và anh không ép. Ông Sai dạy: gỗ không vào là gỗ nói không, đừng lấy búa mà cãi. Có đêm anh nối được hai mảnh, có đêm bốn. Có một đêm gần sáng anh nối được mười một mảnh liền nhau, rồi ngồi yên rất lâu trước chúng. Mảnh thứ mười hai không chịu vào. Anh thử nó từ phía này, phía kia, lật lại, rồi đặt xuống. Anh tháo cả mười một mảnh ra, từng cái một, theo thứ tự ngược lại, đúng như người phu bè tháo bè, rồi trải chúng ra nền lán.

Đêm sau anh bắt đầu từ một mảnh khác.

Anh dùng cục than lại, nhưng không phải để đánh số. Mỗi khi hai mảnh vào nhau ngọt, anh vạch một nét nhỏ ở mặt trong, đúng chỗ hai khớp gặp nhau, hai nét bằng nhau, để đêm sau tay tìm lại được. Nét nào sai, sáng hôm sau anh lấy vạt áo chùi đi. Dần dần mặt trong các mảnh có những vệt xám mờ chồng lên nhau, như những lối mòn người ta đi rồi bỏ.

Có những đêm nước lên cao nhất, tiếng thác nghe như sát vách, nền lán rung rất nhẹ dưới chân, và các mảnh đã nối rung theo, kêu những tiếng khô của gỗ cọ vào gỗ. Anh lấy hai bàn tay ôm chỗ khớp, giữ cho nó khỏi bật, và ngồi như thế đến khi nước dịu. Một đêm gió giật bung đinh một tấm tôn, mưa dội thẳng xuống nền. Anh cởi áo, rồi kéo cả tấm chiếu, phủ lên những mảnh nằm gần chỗ thủng, còn mình ngồi ướt tới sáng, cục than giữ khô trong nắm tay.

Trong những tuần ấy, Vanh bồng Toum đi bộ bốn cây số tới trạm xá, ngồi chờ từ sáng đến quá trưa. Người y tá viết một toa mới, ít dòng hơn toa cũ. Thuốc uống hết tuần thứ ba thì tiếng rít trong ngực thằng bé tan đi, như một sợi dây được nới ra. Vanh không nhắn cho anh. Cô nói với bà Thong, bà Thong nói với cả bến, và tin đến hiên vá lưới trước khi cô đến.

Anh nghe tin lúc đang thắt một mắt lưới, và tay anh không ngừng. Chiều hôm đó anh đến nhà sàn, đứng ở chân cầu thang một lúc, nhìn lên cửa sổ có ánh đèn, rồi quay về lán. Đêm hôm đó anh nối được bảy mảnh, và không tháo ra. Sáng ra anh mới tháo.

Nước rút vào tháng cuối của mùa. Mặt ghềnh ở cuối đảo lộ ra trước, những tảng đá đen nhẵn nhụi từng đợt một, rồi sỏi, rồi một dải cát mịn kẹp giữa hai dòng sủi bọt. Sát mé ghềnh có một mỏm đá phẳng, rộng bằng chiếc chiếu đôi, nơi nước trắng chảy qua hai bên quanh năm. Ở đó không ai đi ngang để hỏi đống gỗ gì. Anh đứng trên mỏm đá ấy một buổi sáng, chân trần, rồi quay về bến.

Hôm sau anh tháo cái lán.

Anh tháo nó như tháo một bè gỗ, từ đuôi, từng tấm tôn một. Trước khi gỡ mỗi tấm anh lật mặt trong lên, dùng than viết một con số, và lần này anh viết ở chỗ mưa không với tới. Anh nhổ cọc tre, buộc từng bó, đánh số lên nút. Cái lán của ông Sai nằm xuống nền đất thành một dãy mảnh rời có số, gọn gàng, ngay hàng, và các bà bán cá đi ngang bến đứng lại nhìn, rồi đi tiếp mà không hỏi.

Ba mươi mốt mảnh gỗ anh mang sang trước, trước cả tôn và cọc. Anh khiêng từng mảnh một, như hôm khiêng qua cầu cạn, theo thứ tự những vệt than ở mặt trong, ba mươi mốt chuyến trên lối mòn ven đảo, đặt chúng lên mỏm đá đã trải chiếu, rồi mới quay lại vác tôn. Mười một chuyến cho tôn. Năm chuyến cho cọc.

Anh dựng cọc trước, đào hố, chèn đá, nhồi đất. Anh ráp khung ngang bằng dây, buộc nút theo kiểu ông Sai buộc. Anh lợp tôn từ dưới lên trên, đúng thứ tự những con số viết ở mặt trong. Mười ngày. Cái chòi nhỏ, thấp, sáng sủa hơn lán cũ vì ánh nước hắt lên từ ghềnh, dựng lại đúng từng tấm, từng cọc, không thừa một đoạn dây và không thiếu một con ốc.

Anh không nói với ai. Thằng Ton đem gói muối xuống bến, thấy chỗ lán cũ chỉ còn một khoảnh đất trống, đứng đó một lúc với gói muối trong tay, rồi chạy đi hỏi bà Thong.

Chiều hôm cuối, nắng xiên qua đỉnh đảo, rọi lên mái tôn mới những vệt vàng. Khamphan trèo lên xà ngang, hai chân kẹp chặt, tay trái giữ mép tấm tôn cuối, tay phải cầm cái búa mượn của bà Thong. Phía dưới anh, ghềnh sủi bọt trắng, và tiếng nước từ bên này lẫn sang bên kia mà không một tiếng nào đứt.

Anh đóng chiếc đinh cuối cùng vào mái tôn, ba nhát, và nhát thứ ba vang lên giữa tiếng ghềnh rồi lặng đi.

Hết Chương 48
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 49 →
← TrướcTiếp →