Mưa đến, mưa đi, nước lên, nước xuống, và cả một năm đi qua bến đò như cái thuyền trôi qua chỗ cạn, chậm, nặng, không để lại dấu gì ngoài vệt bùn trên be. Mùa mưa mái nhà sàn nhỏ giọt suốt đêm, từng giọt rơi đúng vào cái thau đặt ở góc, và Bounma nằm nghe, tay gõ khẽ lên chiếu theo từng giọt như theo nhịp chèo. Mùa nước nổi sông dâng tràn bờ, ngập chân đê, ngập cả bậc thang nhà anh tới tận bậc thứ ba, và đò của anh đi qua những ruộng lúa đã thành biển, chở khách trên đầu những bờ ruộng chìm. Mùa khô nước rút để lộ cát, lộ cọc, lộ cả những cái bẫy cá nằm im như xương người xưa.

Suốt năm ấy người ta gọi anh bằng nhiều tên. Đứa trẻ trong xóm gọi anh là chú đò đỏ. Mấy người đi chợ sáng gọi anh là anh Bounma uống rượu rằm, nói nửa đùa nửa thật, và có bà lão còn dúi vào tay thằng Kham một gói xôi, bảo mang về cho cha mà không nói vì sao. Ở quán nước đầu đê, hễ có người nhắc chuyện sông, kiểu gì cũng có kẻ nháy mắt về phía bến. Không ai ác. Họ chỉ cười, như người ta cười một cái bóng không đúng chỗ.

Con bé Noy thì không hiểu cái tên ấy là trêu. Một sáng nó ngồi cạnh cha trên bậc thang, hai chân đung đưa chạm nước đang dâng, tay cầm miếng xôi.

"Cha, ông đèn là ai?"

"Là người ta gọi cha."

"Sao gọi cha?"

"Vì cha thấy một cái đèn."

"Đèn ở đâu?"

"Trên sông."

"Cha cho con xem được không?"

"Không được."

"Sao không?"

"Vì nó không ở đó mỗi ngày."

Con bé gật đầu nghiêm trang, như người vừa hiểu một điều rất lớn, rồi nhón thêm miếng xôi bỏ vào miệng cha.

Một chiều cuối mùa mưa, thằng Kham đi học về, cặp ướt, mặt xị. Nó đặt cặp xuống sàn, đứng cạnh cha đang vá cái nón, không nói.

"Sao vậy con?"

"Ở trường họ gọi cha là ông đèn."

"Họ gọi sao cũng được."

"Con nói họ im, họ không im."

"Con đánh nhau à?"

"Không. Con bỏ đi."

"Vậy là đúng."

"Cha." Nó nhìn xuống giày. "Cha có thật là thấy không?"

Bounma đặt cây kim xuống. Anh nhìn con trai, đứa con mười một tuổi đã biết nhìn cha bằng ánh mắt cân nhắc của một người lớn nhỏ.

"Cha thấy."

"Con tin cha."

"Con không cần tin."

"Con tin." Nó lắc đầu. "Nhưng con không thích họ gọi."

Tối ấy Si ngồi bên bếp, tay đảo nồi cháo, ngọn lửa liếm vào đáy nồi hắt ánh đỏ lên gò má cô. Cô không ngẩng lên khi nói.

"Anh đừng nhắc nữa."

"Anh có nhắc đâu."

"Anh không nhắc, nhưng cả nhà đều nghe."

"Nghe cái gì?"

"Nghe anh nín."

Bounma ngồi xuống bậc cửa, nhìn ra ngoài tối.

"Em muốn anh nói là anh nhìn nhầm?"

"Em không muốn anh nói gì hết. Em chỉ xin anh thôi nhắc."

"Anh không hứa."

"Em biết anh không hứa." Cô khều củi, tàn than bay ra thành mấy đốm đỏ rồi tắt. "Em không nói anh sai. Em không biết anh sai hay không. Em chỉ biết thằng Kham về nhà mặt như thế này, con Noy hỏi cha nó có phải người dở hơi không."

"Noy hỏi vậy?"

"Nó tám tuổi. Nó hỏi cái gì cũng được."

"Em trả lời sao?"

"Em nói cha con chèo đò, cha con chưa làm chìm ai bao giờ."

Anh im lặng rất lâu. Gió từ sông thổi lên làm ngọn đèn dầu nghiêng, bóng hai vợ chồng đổ lên vách tre, lắc, rồi thẳng lại.

"Si."

"Gì?"

"Anh cảm ơn em."

"Đừng cảm ơn. Anh hứa đi."

"Không hứa được."

Cô thở ra, đứng dậy, bưng nồi cháo xuống mâm, và không nói thêm một lời nào cho tới lúc cả nhà ăn xong.

Bounma biết rõ mình không giận ai. Anh chỉ thấy mỗi người đi qua bến đều mang theo một câu hỏi nhỏ, nhẹ như hạt cát, mà một năm gồm ba trăm sáu mươi lăm ngày thì hạt cát ấy chất lên thành một cái gò. Anh chèo qua cái gò ấy mỗi sáng, và mỗi sáng anh đều thấy mình vẫn ở nguyên chỗ cũ, nặng hơn một chút.

Chỉ có Sone là khác. Mỗi tuần một lần, thường vào chiều thứ bảy, nó xách một xâu cá chạch hoặc cá trê từ lưới ông Phoumy, bước lên bậc thang nhà anh, đặt cá xuống mâm rồi ngồi ở hiên, hai tay chắp trước gối, nghe. Bounma kể lại từ đầu. Anh kể không đổi một chữ, nhưng nó nghe như nghe lần đầu, mắt nhìn sông, miệng hé nhẹ, thỉnh thoảng gật.

"Rồi sao nữa anh?"

"Rồi tắt."

"Rồi quả thứ hai?"

"Quả thứ hai cũng tắt."

"Anh có sợ không?"

"Lúc đó anh không sợ. Sau mới sợ."

"Sợ gì?"

"Sợ là anh nhìn đúng."

Sone gật. Duang đứng ở cửa bếp, tay lau trên tạp dề, nhìn hai người đàn ông ngồi cạnh nhau như hai người ngồi cạnh một cái giếng.

"Hai người như hai con mọt," cô nói, và bật cười, một tiếng cười trong, ngắn. "Một con đục, một con nghe tiếng đục."

"Anh Bounma là người thấy," Sone đáp, mắt không rời sông. "Em là người nghe."

"Vậy em là gì?"

"Em là vợ của người nghe."

"Ăn nói." Duang lườm, rồi quay vào bếp, nhưng Bounma thấy cô mỉm cười.

Mùa khô sang, sông cạn lộ ra từng bãi cát vàng, và đò anh chở ít khách hơn. Một sáng, khi những người khách cuối cùng đã bước lên bờ, anh xuống dưới sàn nhà, lấy cái mái chèo dự phòng ra khỏi góc, đặt lên hai chân ghế, và bắt đầu bào lại cán, từng lát mỏng cuộn lên theo lưỡi bào như lá chuối non.

Hết Chương 33
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 34 →
← TrướcTiếp →