Khúc sông ở ngã ba ba bờ không có ai giữ. Không phải vì thiếu người đủ sức giữ, mà vì đã có một người đàn bà cầm chắc nó trong tay rồi buông ra. Bà tên Nọi, gánh muối và thuốc lá qua lại giữa ba bờ, và bà không ở lại.

Rạng sáng, sương xuống dày trên lối mòn, trắng đục, thấp, nuốt mất ngọn cỏ, nuốt mất những tảng đá bên đường, nuốt luôn cả tiếng chân người đi, đến nỗi người nào bước vào đó cũng như bước vào một tấm vải ướt. Chỉ có một âm thanh còn sống sót, kẽo kẹt, đều, chậm, tiếng đòn gánh tre cọ vào vai trái đã chai lên thành cục, và dưới tiếng ấy là hơi thở ngắn của một người đàn bà bước nhỏ, nhanh, như người đang đếm.

Bà Nọi đến giếng muối khi trời còn xám. Giếng nằm giữa một bãi đất trắng loang, bốn phía là những đống muối hạt chất cao quá đầu người, phủ tấm bạt rách, và một cái chòi nhỏ, nơi người coi giếng ngồi trên cái ghế đẩu thấp với cái cân treo lủng lẳng ngay trước mặt.

"Ông Cân."

"Bà Nọi."

"Bốn chục ký."

"Bốn chục ký." Ông Cân là người đàn ông gầy, nhăn nheo, hai ngón tay phải ố vàng vì thuốc lá cuốn, và ông không ngẩng đầu khi nói. "Giá sáu đồng."

"Sáu đồng. Đừng cộng nữa."

"Tôi chưa cộng."

"Ông định cộng."

"Mùa này gió bắc nhiều, muối ra chậm."

"Gió bắc năm nào cũng nhiều."

Ông Cân khẽ cười, bằng mũi, rồi đứng dậy, kéo mấy bao muối lại gần cái cân. Bà Nọi đặt hai thúng xuống đất, tháo nắp. Thúng trái, bà luôn đổ muối vào trước, rồi ấn xuống, chặt, bằng cả hai bàn tay, từng lớp, từng lớp, cho tới khi muối đầy sát miệng thúng và không còn kẽ nào cho thứ gì lọt ra. Dưới cùng, trước khi đổ, bà đã đặt một vật nhỏ, dẹt, vuông góc, bọc vải thô, và không ai nhìn thấy nó, vì bà luôn đặt nó khi sương còn dày.

"Một chục," ông Cân nói, thả bao đầu tiên lên đĩa cân.

"Một chục."

"Hai chục."

"Hai chục."

"Ba chục. Bốn chục." Ông đọc to từng số, kim cân rung rung rồi đứng yên. "Bốn chục ký đủ."

"Đủ."

"Hai trăm bốn chục đồng."

"Còn thuốc lá cuốn?"

"Hai chục bó."

"Hai đồng một bó."

"Hai đồng. Bốn chục."

"Bốn chục," ông Cân lặp lại, và viết con số lên mảnh gỗ treo cạnh cân, bằng than.

Bà Nọi mở túi thắt lưng, đếm ra từng tờ. Ngón tay bà ngắn, nứt, đếm nhanh, không mấp máy môi, rồi đặt xấp tiền lên mặt bàn cạnh cái cân.

"Bà mua cho ai bán?" ông Cân hỏi, nhặt tiền.

"Ai mua thì tôi bán."

"Người mua là người thật hay không, bà biết chứ?"

"Họ trả tiền thật."

"Ừ." Ông Cân đặt xấp tiền vào ngăn kéo, đóng lại. Ông nhìn bà một lúc lâu, và có điều gì đó trong mắt ông lặng đi, như người đang tính một món nợ mãi chưa ra số. "Bà đi đâu cũng gặp bà. Mà hỏi bà ở đâu thì không ai biết."

"Tôi ở đây."

"Ở đây là ở đâu?"

"Chỗ ông đang đứng."

Ông Cân cười, tiếng cười khô, ngắn, nhưng không phải nụ cười thật. Ông cúi xuống bao muối cuối cùng và không hỏi thêm.

Bà Nọi gánh hai thúng lên vai. Đòn gánh võng xuống, kêu một tiếng dài, rồi nâng lên, bà đổi vai trái sang phải, rồi từ phải sang trái, tìm chỗ thịt chưa chai, và không tìm được.

Bà đi.

Lối mòn từ giếng muối lên dốc hẹp như một đường chỉ trắng giữa hai mảng sương. Bà đi chậm lúc đầu rồi nhanh dần, mỗi bước đặt xuống chắc, ngắn, ngón chân bám vào đất ẩm, và cứ chừng ba bước bà lại nhún vai, chuyển đòn gánh sang bên kia, đều như nhịp thở. Tiếng đòn gánh kẽo kẹt đi theo, và sau tiếng ấy bà nghe thêm một tiếng khác, nhẹ hơn, gấp hơn, tiếng chân trần chạy vội trên đất.

"Chị."

Bà không dừng. Tiếng chân trần đuổi theo, thở dốc, rồi một thằng bé hiện ra bên cạnh, chừng mười hai tuổi, gầy như que củi, quần xắn tới đầu gối, tóc rối bám đầy sương.

"Chị cho em gánh một thúng đi. Em đi nhanh mà."

"Không."

"Em gánh nổi. Em gánh được hai chục ký."

"Mày nặng mười lăm ký."

"Nhưng em khỏe."

"Khỏe không phải là nặng."

"Chị cho em đi theo thì em không đòi tiền."

"Mày ăn chưa?"

"Chưa."

Bà móc trong túi ra một miếng cá khô, ném cho nó mà không nhìn.

"Chị cho em?"

"Tao cho mượn."

"Vậy chị trả em nửa đồng, em gánh cho một đoạn."

"Không."

"Vậy chị cho em đi theo."

Bà Nọi không đáp. Thằng bé hiểu im lặng ấy không phải là không, cũng không phải là có, nên nó đi theo, chậm hơn bà ba bước, chân trần giẫm lên những chỗ bà vừa giẫm. Họ đi như thế một đoạn lâu, sương loãng dần, ánh sáng đục xám đổ xuống những ngọn cỏ đẫm nước.

"Chị tên gì?"

"Nọi."

"Em tên Lụm."

"Biết rồi."

"Sao chị biết?"

"Mày đứng ở chợ đêm hai mùa nay."

"Chị nhớ em hả?" Giọng nó sáng lên.

"Tao nhớ cái chân mày. Chân mày không bao giờ có dép."

Thằng Lụm cười, ngượng, rồi chạy lên đi ngang hàng với bà một lúc, ngó vào hai thúng muối nặng trĩu.

"Chị đi đâu?"

"Đi."

"Rồi chị về đâu?"

Bà Nọi không đáp. Đòn gánh võng xuống, nâng lên. Bà đổi vai.

"Chị nghỉ đi."

"Không nghỉ."

"Vai chị đỏ rồi."

"Vai tao đỏ từ hồi mày chưa đẻ."

"Chị đi bao xa một chuyến?"

"Bảy ngày."

"Mà chị đi nhanh quá."

"Nhanh thì mau tới."

Lên tới chỗ dốc rẽ, ở đó có một gốc đa cổ thụ, rễ phủ rêu, và dưới gốc đa là một mảnh đất bằng đủ cho một người nằm co. Bà dừng lại, không ngồi xuống chỗ rễ đa phẳng như một cái ghế, chỉ đứng, hai thúng đặt xuống đất hai bên chân. Sương đã tan hẳn, trên đồi chỉ còn một vệt trắng mỏng bám vào rễ cây. Thằng Lụm đứng cách bà một sải, chân trần dính đầy đất đỏ, mắt vẫn nhìn vào thúng bên trái.

"Chị."

"Hử?"

"Cái thúng này nặng hơn cái kia."

Bà Nọi liếc nó, ngắn, rồi quay đi nhìn con đường xuống bên kia dốc.

"Mai tao đi sớm."

Hết Chương 22
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 23 →
← TrướcTiếp →