Thầy đồ trong làng thu học phí mỗi vụ hai đấu thóc một đứa, nhà nào nuôi gà thì thêm chục trứng, nhà nào không có gà thì thôi.

Lớp học đặt ở gian ngoài nhà thầy, mười ba đứa ngồi hai hàng chiếu, chiếu bên phải là đứa lớn, chiếu bên trái là đứa mới vỡ lòng. Sáng nắng hanh, cửa mở toang cho sáng, và đàn gà nhà thầy đi lại ngay ngoài bậc cửa, cứ tới đoạn cả lớp đọc đồng thanh thì tiếng gà bị át hẳn, dứt tiếng đọc thì lại nghe rõ.

Thầy ngồi trên phản, chân xếp bằng, trước mặt là một chồng sách chép tay và một cái thước gỗ vuông cạnh.

"Nhà họ Trương thu được ba mươi bảy đấu thóc," thầy nói. "Chia cho ba anh em. Anh cả phần rưỡi, hai em mỗi người một phần. Hỏi mỗi người bao nhiêu."

Thằng ngồi cạnh Mạc Cửu chép đề vào tấm bảng gỗ của nó, nắn nót từng chữ vì bút lông chỉ nhúng nước, viết chậm thì chữ đầu đã khô mất trước khi viết tới chữ cuối.

Mạc Cửu nói trước khi nó chép xong.

"Anh cả mười ba đấu tám phần mười. Hai em mỗi người chín đấu hai phần mười. Nhưng thóc không đong ra phần mười được, nên thật ra là anh cả mười ba đấu tám bơ, mỗi em chín đấu hai bơ, mà cái bơ thì mỗi nhà một cỡ, cho nên chia kiểu này ba anh em sẽ cãi nhau ạ."

Thầy nhìn cậu một lúc rồi cười, cái cười làm chòm râu thưa của ông vểnh lên.

"Trò này có trí nhớ số," thầy nói với cả lớp. "Trong làng ta mười năm nay chưa có đứa nào tính nhẩm nhanh bằng."

Cả lớp cười ồ. Không phải cười theo thầy. Là kiểu trẻ con cười một đứa vừa bị chỉ ra là khác mình, tiếng cười to hơn mức cần thiết, và có đứa còn thúc khuỷu tay vào sườn đứa bên cạnh. Thằng ngồi cạnh Mạc Cửu vẫn cắm cúi chép nốt đề, môi mím lại.

Mạc Cửu ngồi xuống. Cậu không thấy khó chịu. Cậu chỉ tính nhẩm thêm một lần nữa cho chắc, và nhận ra nếu anh cả chịu lấy mười ba đấu chẵn thì hai em mỗi người được đủ chín đấu rưỡi, và như thế thì không nhà nào phải cãi nhau về cái bơ. Cậu định giơ tay nói ra, nhưng thầy đã sang bài khác.

Bài sau là chép sách.

Thầy phát xuống hai quyển cho hai hàng chiếu, quyển chép tay, giấy đã ngả vàng ở mép, đóng bằng chỉ gai theo lối bốn lỗ. Mạc Cửu lật quyển bên hàng mình ra và bắt đầu chép từ dòng thầy chỉ.

Chép được nửa trang, cậu dừng bút.

"Thưa thầy."

"Gì."

"Quyển này đánh số theo tờ. Con đang chép ở tờ mười hai. Mà tờ trước nó là tờ mười."

Trong gian có tiếng một đứa nào đó ngáp dở rồi nuốt ngược lại.

Thầy đặt chén nước xuống phản. Ông với tay, kéo quyển sách về phía mình, lật ngược lật xuôi hai lượt bằng ngón cái, chậm rãi, như người kiểm lại một thứ mình đã biết.

"Sách chép tay thì thợ chép sai số là thường," thầy nói.

"Dạ. Nhưng chỗ gáy còn vết chỉ cũ. Tờ mười một bị rút ra ạ, con thấy hai lỗ kim ở gáy rộng hơn các lỗ khác."

Thầy gấp quyển sách lại.

Ông không gấp mạnh. Ông chỉ khép nó, xoay ngang, và đặt xuống dưới chồng sách bên tay trái, tờ bìa úp xuống mặt phản, rồi kéo một quyển khác từ trên chồng ra.

"Hôm nay chép quyển này. Từ dòng thứ ba."

Cả lớp lật giấy. Đàn gà ngoài bậc cửa lại nghe rõ.

Mạc Cửu chép nốt buổi và không hỏi thêm câu nào. Nhưng gần hết giờ, khi thầy đi dọc hai hàng chiếu để soát chữ, cậu ngẩng lên.

"Thưa thầy, sổ nhà con có mấy dòng cũ ghi niên hiệu đời trước. Cha con bảo chép lại cho khỏi mọt. Con chép thì chép làm sao ạ."

Thầy đứng lại ở đầu chiếu. Ông nhìn ra ngoài sân, chỗ nắng đã lên tới bậc cửa thứ hai.

"Chép can chi," thầy nói. "Năm nào thì ghi can chi năm ấy. Giáp Tý, Ất Sửu, cứ thế. Can chi thì đời nào cũng dùng được, không phải đổi."

"Thế còn niên hiệu ạ."

"Tan học rồi hẵng nói."

Tan học, lũ trẻ ùa ra sân, tranh nhau xỏ dép cỏ, một đứa vấp bậc cửa ngã sóng soài rồi bò dậy chạy tiếp. Thầy giữ Mạc Cửu lại bằng cách gọi tên cậu một tiếng và chỉ vào chỗ ngồi.

Trong gian chỉ còn hai người. Nắng vào tới nền đất, cắt một vệt chéo qua giữa lớp, và bụi nổi lên trong vệt ấy.

Thầy không nhắc lại quyển sách. Ông không nhắc lại tờ mười một. Ông rót nước ra chén, đẩy sang cho cậu một chén, rồi ngồi xuống phản.

"Trò hỏi giỏi," ông nói. "Giỏi hơn mức trò biết. Từ nay hỏi cái gì thì để lúc trong nhà chỉ có hai người mà hỏi. Đừng hỏi giữa lớp."

"Sao ạ."

"Vì mười ba đứa thì có mười ba cái miệng, mà mười ba cái miệng thì có ba mươi sáu người nhà." Thầy uống một ngụm. "Trò tính nhẩm được chỗ đó."

Mạc Cửu tính được. Ba mươi chín, nếu tính cả nhà thằng ngồi cạnh cậu, nhà nó năm người. Nhưng cậu hiểu là thầy không định nói về con số.

Cậu cầm chén nước lên và không uống.

Hai cái lỗ kim ở gáy quyển sách kia, cậu vẫn còn nhìn thấy rõ cả khi đã nhắm mắt lại.

Cậu đặt chén xuống, chào thầy, và ra sân. Đi tới cổng thì cậu quay lại nhìn cái chồng sách trên phản. Quyển bị úp mặt vẫn nằm nguyên dưới cùng, gáy quay ra phía cửa, và từ tận chỗ cổng vẫn nhận ra được hai cái lỗ ấy rộng hơn những lỗ còn lại.

Chú thích

[1] Ở làng xã Quảng Đông thế kỷ 17, lớp học chữ Hán thường do một thầy đồ mở tại nhà, học phí trả bằng nông sản theo vụ. Học trò tập viết trên bảng gỗ quét phấn nước, dùng bút lông nhúng nước lã để chữ mau khô và dùng lại được nhiều lần.

[2] Sách chép tay thời này đóng theo lối xâu chỉ qua các lỗ kim ở gáy; số thứ tự thường đánh theo tờ chứ không theo trang, nên mỗi số ứng với hai mặt giấy.

[3] Việc ghi niên đại bằng can chi (Giáp Tý, Ất Sửu…) song song với niên hiệu là tập quán phổ biến trong văn tự dân gian, và có ưu điểm là không phụ thuộc vào triều đại đang trị vì.

Hết Chương 9
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 10 →
← TrướcTiếp →