Chú Thượng Nguyên về tới cổng vào giờ Thân, đi bộ, một mình, và trong nhà không ai nghe thấy tiếng cổng tre. Mẹ cậu là người nhìn thấy trước. Bà đang phơi đỗ ngoài sân thì ngẩng lên, đứng thẳng dậy, và đứng như thế một lúc mà không gọi ai. Chú vào tới giữa sân thì dừng. Chú không đội gì trên đầu.
Tóc chú đã cạo theo lệ, khoảng trán nhẵn kéo từ hai bên thái dương lên tới đỉnh, và phần tóc còn lại tết thành một đuôi sam ngắn, ngắn tới mức phải buộc bằng một mẩu dây vải chứ không quấn nổi. Vết dao cạo còn để lại hai chỗ sây sát sau tai, đã đóng vảy.
Chú đi thẳng vào chái sau nhà ngang, chỗ chú vẫn ở nhờ, và không ra ăn cơm tối.
Đó là ba hôm trước.
Trong ba hôm ấy, cả nhà nói chuyện muối lên giá, chuyện đỗ phơi chưa được nắng, chuyện mái bếp dột, và không nói chuyện mười hai lạng bạc. Tờ giấy cầm của đương phố nhà họ Ngô được cha cậu gấp làm tám, kẹp vào bìa sau quyển sổ bìa xanh, và cậu biết chính xác nó nằm ở đó vì cậu là người đọc to dòng lãi ba lần trước mặt người ta. Mẹ cậu vẫn xới cơm bốn bát mỗi bữa. Bát thứ tư có hôm bà bưng xuống chái, có hôm cậu bưng, và chiều nào cũng có người bưng lên.
Chiều nay mưa nhỏ, thứ mưa rây đều không đủ ướt đường, chỉ đủ làm mái lá sẫm lại và làm cái mùi rơm mục dưới hiên nồng lên. Mạc Cửu bưng khay cơm đi ngang sân, một tay giữ khay, một tay che cho bát khỏi hứng nước.
"Ngày thứ mấy rồi hả mẹ," cậu hỏi lúc nhận khay.
"Bốn," mẹ cậu nói, và không nói thêm gì.
Trong chái tối hơn ngoài sân một bậc. Cửa sổ liếp chống bằng một que tre, mở đủ để nhìn ra góc vườn chuối. Trên nền đất, kê lệch về phía cột, có một cái thau sành hứng chỗ dột, và nước rơi vào thau theo nhịp gần đều, chừng ba nhịp trong một hơi thở.
Chú ngồi trên chõng, quay lưng ra cửa.
"Cơm chú ạ."
Chú gật. Không quay lại, không dừng tay.
Mạc Cửu đặt khay xuống mép chõng: một bát cơm nguội, một chén nước cá kho mặn, một đĩa rau muống luộc đã tái màu. Cậu đặt đũa gác ngang miệng bát, đúng lệ mẹ dạy. Rồi cậu ngồi bệt xuống nền đất bên cạnh chõng, hai tay ôm gối, như cậu vẫn ngồi ở đó từ hồi bốn năm tuổi.
Chú đang khâu lại cái nón.
Cái nón ấy đã treo trên cây đinh tre ở đầu hồi ba hôm liền, đúng chỗ Mạc Cửu treo lên hôm đi đình về. Sáng nay cậu đi qua thì cây đinh trống. Bây giờ cái nón nằm trong lòng chú, ngửa lên, và chú đang vá lại đường chỉ gai đứt ở mặt trong, chỗ hai lớp lá chồng nhau.
Kim khâu nón to bản, dài bằng đốt rưỡi ngón tay, đầu kim hơi cong. Chỉ gai vuốt qua cục sáp ong hai lần trước mỗi lần xỏ. Chú xuyên kim từ trong ra, kéo hết sợi, ấn ngón cái miết mũi chỉ cho nằm sát, rồi mới xuyên mũi kế tiếp. Mỗi mũi cách mũi trước đúng bằng bề ngang một hạt gạo.
"Ngoài huyện muối lên giá chú ạ," Mạc Cửu nói. "Hăm hai văn một đấu. Tháng trước hai mươi."
Chú gật.
"Người ta bảo tại thuyền chở muối ít đi."
Chú gật lần nữa, và đưa kim.
Trước kia, hỏi tới giá muối thì thế nào chú cũng nói. Chú sẽ hỏi lại là hăm hai ở hàng nào, hàng bà Đàm hay hàng góc chợ, vì hai hàng ấy đong không giống nhau, hàng góc chợ gạt đấu bằng cạnh bàn tay nên đầy hơn nửa phân. Chú sẽ nói cái đó bằng giọng cãi nhau vui, và cha cậu sẽ bảo hai chú cháu ra sân mà cãi.
Chú đưa kim.
Mạc Cửu ngồi lại. Cậu không hỏi gì nữa. Cậu ngồi đủ lâu để đếm được mười tám giọt rơi vào cái thau sành, và trong mười tám giọt ấy chú không nói câu nào.
Trời tối dần từ phía vườn chuối vào. Nước vẫn rơi vào thau sành. Chú ăn hết bát cơm lúc nào cậu không để ý, chỉ thấy đũa đã gác lại ngang miệng bát, và chén nước cá kho đã cạn tới đáy.
Cậu đếm mũi khâu.
Từ mũi đầu tiên cậu nhìn thấy tới mũi cuối cùng trước khi chú thắt nút: một trăm bốn mươi bảy mũi. Cậu đếm chắc, không đếm nhẩm chồng, vì cậu chia vành nón làm bốn cung rồi cộng lại, cách cha dạy cậu đếm bồ thóc.
Đêm ấy, ở gian sổ, cậu mở cuốn sổ tay riêng của mình ra, cuốn cậu vẫn ghi giá chợ.
Cậu ghi: Ngày hăm lăm tháng tư. Một trăm bốn mươi bảy mũi.
Cậu ngồi nhìn dòng ấy khá lâu. Bên trái nó là cột ngày, bên phải là cột giá, ở giữa lẽ ra phải là cột hàng hóa. Dòng này không có hàng hóa. Cậu để trống chỗ đó và không biết viết gì vào.
Cha cậu bước vào gian, cầm đèn.
Ông không hỏi. Ông cúi xuống, đọc dòng chữ ấy, và Mạc Cửu thấy quai hàm ông động một cái dưới da.
Rồi ông đưa tay, kẹp mép trang giấy, và xé.
Tiếng giấy bản rách nghe khô và ngắn, gọn hơn cậu tưởng. Ông gấp tờ giấy làm tư, bỏ vào ống tay áo, đặt cuốn sổ tay lại trước mặt cậu, rồi mang đèn đi ra.
Ông không nói một câu nào. Cậu cũng không hỏi.
Sang ngày thứ năm, cái nón đã khâu xong. Nó nằm trên đầu giường trong chái, vành úp xuống, mặt trong ngửa lên, đường chỉ gai mới còn sáng màu hơn đường chỉ cũ.
Chú không đội nó ra sân lần nào nữa.
Chú thích
[1] Kiểu tóc cạo nửa đầu phía trước và tết đuôi sam phía sau là hình thức bắt buộc với đàn ông người Hán dưới triều Thanh. Với người bị bắt vì vi phạm rồi được chuộc hoặc tha, việc cắt tóc thường được thi hành ngay tại nha môn trước khi thả về.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 9 →