Mười hai lạng bạc, quy theo giá chợ Hải Khang tháng ấy, là mười ba xâu tiền kẽm và lẻ hơn hai trăm văn.
Mạc Cửu tính ra con số đó trên quãng đường từ đình về nhà, không cần bàn tính, và tính lại lần thứ hai ở cổng vì lần thứ nhất cậu quên trừ hao cho người đổi bạc. Cậu không nói con số ấy với ai. Về tới sân, cậu treo cái nón lên cây đinh tre ở đầu hồi nhà ngang, chỗ chú vẫn treo, rồi đi rửa chân.
Sang trưa hôm sau, cha gọi cậu vào buồng trong và khép cửa lại.
Trong buồng có ba người và một cái phản gỗ. Ánh sáng vào qua khe liếp thành một vệt dài bằng bàn tay, nằm vắt ngang mặt phản, và trong vệt sáng ấy có bụi trấu bay lên rồi lắng xuống rất chậm. Trên phản: tráp sổ đã mở, bàn tính, ba xâu tiền, một cái cân tiểu ly bọc trong khăn nâu, và một hộp gỗ vuông bằng gang tay của mẹ mà Mạc Cửu chưa từng thấy mở bao giờ.
"Ngồi cuối phản," cha nói. "Cầm bút."
Cậu ngồi xuống, mài mực. Mẹ cậu ngồi ở mép phản phía trong, không gần bàn tính, không xa hẳn.
Cha đếm tiền trước. Ông không đếm từng đồng. Ông nhấc từng xâu lên, gõ đáy xâu xuống mặt phản ba cái cho các đồng dồn khít vào nhau, rồi kẹp xâu vào giữa hai ngón mà đo bằng mắt, cách người ta đo một xâu một ngàn văn đã xỏ đủ. Ba xâu, đủ cả ba.
"Ba ngàn văn," ông nói. "Ghi."
Cậu ghi. Cha mở tráp lấy ra một gói giấy dầu, trong có bạc vụn. Ông đặt lên đĩa cân tiểu ly, kéo quả cân dọc theo cán, đọc số, cắt một mẩu nhỏ bằng kéo bạc rồi cân lại. Ông làm ba lần với ba mẩu.
"Hai lạng tư. Ghi."
"Thóc thì sao ạ."
"Thóc chưa vào hạt." Cha đẩy hai hạt bàn tính lên. "Bán lúc này rẻ hơn thóc vụ một phần tư. Cứ tính rẻ một phần tư mà ghi, đừng tính theo giá mình muốn."
Cậu ghi. Rồi ghi tiếp phần đòi được của ba nhà còn nợ trong xóm dưới, phần cha nói là "may thì thu được nửa", và cậu ghi đúng một nửa chứ không ghi cả. Cha liếc qua dòng ấy và không sửa.
Cộng lại, thiếu.
Cha gạt bàn tính về không, làm lại từ đầu. Lần thứ hai ông không tính phần phòng thân mà ông vẫn giữ riêng mọi năm, phần đủ để nhà ăn qua ba tháng giáp hạt. Vẫn thiếu, ít hơn, nhưng thiếu.
Lần thứ ba ông tính cả cái nghiên mực gỗ mun và bộ ván ngựa gian giữa. Mạc Cửu nhìn hai bàn tay cha đi trên bàn tính. Lần thứ ba ra đúng chỗ lần thứ nhất đã ra, lệch chưa tới nửa xâu, và cậu ngồi đợi cha gạt lại lần thứ tư mà cha không gạt nữa.
Cha để que gạt xuống.
"Đủ," ông nói. "Đủ một lần."
Mẹ cậu nhìn lên.
"Một lần là sao?"
"Là mười hai lạng thì gom được. Là hai mươi bốn lạng thì không." Cha xoay quyển sổ về phía Mạc Cửu. "Cửu. Ghi thêm một khoản."
Cậu chấm bút.
"Ngày hai mươi mốt tháng tư. Chi mười hai lạng bạc, chuộc một suất người. Xuống dòng. Ghi tiếp: nhà không còn khoản thứ hai."
Ngòi bút cậu dừng lại trên mặt giấy, không chạm.
"Ghi vào cột nào ạ?"
"Cột chi."
"Nhưng cái này không phải tiền."
"Ghi vào cột chi," cha nói.
Cậu ghi. Nét chữ cậu năm ấy đã thẳng hàng, nhưng chữ "hai" ở cuối dòng cậu viết hơi nhỏ hơn những chữ khác, và cậu để nguyên, không tô lại, vì trang có vết chữa là trang không ai còn tin.
Mẹ cậu với tay lấy cái hộp gỗ.
Bà mở nắp bằng hai ngón, không kéo mà đẩy ngang, kiểu hộp có mộng trượt. Bên trong lót vải điều đã bạc thành màu gạch cua. Bà lấy ra đôi vòng bạc, đặt xuống mặt phản, cạnh cân tiểu ly, rồi đóng hộp lại và đặt cái hộp không sang bên.
Không phải kiểu tháo vội, cũng không phải kiểu đặt mạnh cho người ta nghe tiếng. Bà đặt hai chiếc vòng nằm sát nhau, tròn khít vào nhau như hai vành trăng, rồi rút tay về.
Cha cậu không ngăn. Ông cầm một chiếc lên, xoay dưới vệt sáng để xem mặt trong, nơi thợ bạc đóng dấu hiệu, rồi đặt xuống đúng chỗ cũ.
"Ra đương phố nhà họ Ngô ngoài huyện," ông nói với cậu. "Đi với người gánh thuê. Cầm, đừng bán. Hỏi lãi trước, hỏi kỳ chuộc trước, rồi mới đưa vòng. Người ta ghi giấy thì con đọc lại to lên một lần trước mặt người ta."
"Vâng."
"Đọc cả dòng lãi. Đọc chậm."
Mẹ cậu gói đôi vòng vào một mảnh vải nâu, thắt hai nút, rồi đưa cho cậu bằng cả hai tay như đưa một vật của người khác.
Cậu ra khỏi buồng, qua sân, ra cổng. Nắng đường huyện trắng và khô, người gánh thuê đi trước cậu chừng mươi bước, đòn gánh không trên vai.
Đi được một quãng, cậu quay lại nhìn.
Mẹ cậu đứng ở bậc cửa, hai tay buông xuôi. Ở cổ tay bà, chỗ hai chiếc vòng vẫn nằm suốt mười mấy năm, da trắng hơn phần da còn lại đúng một khoanh.
Không ai trong nhà nhìn vào chỗ ấy, cả hôm đó lẫn những hôm sau.
Chú thích
[1] Tiền kẽm và tiền đồng lưu hành trong giao dịch dân gian phải quy đổi ra bạc khi nộp lên cấp huyện trở lên; người đổi bạc ăn hoa hồng theo tỷ lệ, nên số tiền thực phải gom luôn lớn hơn số bạc danh nghĩa.
[2] Cân tiểu ly (cân đòn nhỏ) và kéo cắt bạc là dụng cụ thông dụng trong nhà buôn và nhà có giao dịch bạc vụn, vì bạc lưu thông theo trọng lượng chứ không theo mệnh giá.
[3] "Đương phố" là tiệm cầm đồ, một định chế tín dụng dân gian phổ biến ở huyện lỵ Quảng Đông thế kỷ 17, nhận cầm đồ trang sức, quần áo, nông cụ theo kỳ hạn có ghi giấy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 8 →