Then cửa kho thóc đã cong từ mùa mưa năm ngoái, nên mỗi sáng Mạc Cửu phải nhấc nó lên bằng cả hai tay rồi mới rút ngang ra được.
Sáng thứ bảy, cậu đưa tay ra và không có gì để nhấc.
Then đã rút sẵn, dựng tựa vào vách. Cánh cửa ván hé chừng một gang, đủ để cậu lách vào mà không phải đẩy. Cậu nhớ rõ tối qua chính cậu cài, vì tối qua cậu cài xong còn lắc thử hai cái theo thói quen.
Trong kho tối hơn ngoài sân. Ánh sáng tờ mờ lọt qua khe ván thành mấy vệt song song nằm chéo trên mặt thóc, mảnh và nhạt, và trong mấy vệt ấy không có bụi bay.
Cái thứ cậu nhận ra trước tiên là không có tiếng chuột.
Sáng nào cũng có. Cậu vào, chuột chạy rào một lượt dưới đáy bồ, mấy con chim sẻ vào từ lỗ thông gió vỗ cánh lên xà rồi thôi. Sáng nay không có gì cả, chỉ có tiếng chân cậu trên nền đất và tiếng thở của chính cậu.
Cái bồ thóc lớn bị kéo lệch khỏi chỗ, để lại một vệt tròn sạch trên nền. Cái ghế đẩu ba chân nằm nghiêng cạnh đó, một chân chổng lên.
Trên mép bồ có cái nón.
Nó đặt ngửa, ngay ngắn, vành không chạm vào thóc, đường chỉ gai mới còn sáng hơn đường chỉ cũ. Mạc Cửu nhìn cái nón, rồi cúi xuống dựng cái ghế đẩu lên cho gọn, vì cậu vẫn dựng ghế lên mỗi khi thấy ghế đổ.
Rồi cậu ngẩng đầu.
Chú cậu treo trên cây xà ngang thứ hai tính từ cửa vào. Chân chú cách mặt thóc chưa tới một gang, và mũi bàn chân trái chúc xuống, chạm được vào lớp thóc trên cùng, làm lún ở đó một vệt nông hình bán nguyệt.
Cậu không kêu được ngay.
Cái tiếng cậu phát ra lúc chạy ngược qua sân không thành chữ nào. Cả nhà vẫn hiểu.
Cha cậu ra trước, chỉ mặc áo cánh, tay cầm dao rựa. Người làm thuê chạy sau, giơ cái đèn dầu còn chưa vặn to bấc. Cha cậu vào kho, đứng lại đúng một nhịp ở chỗ vệt sáng đầu tiên, rồi bảo người kia bắc ghế và giơ đèn cao lên.
Họ hạ chú xuống. Sợi thừng là loại bện gai to bằng ngón cái, thứ người ta dùng buộc thuyền ở bến, và khi cắt xong nó vẫn để lại trên mặt gỗ xà một vệt hằn sâu bóng lên vì bị siết.
Cha cậu bế chú ra khỏi kho, đặt xuống chiếu đã trải sẵn ngoài hiên, rồi quay lại đóng cửa kho và cài then.
Trời chưa sáng hẳn.
Ông gọi cả nhà lại đứng ở hiên. Mẹ cậu, hai người làm thuê, bà vú già, và Mạc Cửu. Ông không vào nhà thay áo. Ông nói ngay ở đó, giọng đều, giọng ông vẫn dùng để đọc một dòng sổ.
"Chú các người ốm từ tháng trước. Nay mất."
Không ai nói gì.
"Ai hỏi thì nói thế. Nhà bên có hỏi cũng nói thế. Người tới viếng hỏi cũng nói thế."
Bà vú già nhìn xuống chân mình.
"Ông ơi, nhà họ Đàm ở sau vườn, đêm qua..."
"Đêm qua nhà mình có ai khóc thì cũng là nhà có người ốm nặng." Cha cậu vẫn không cao giọng. "Việc này mà lên tới nha huyện thì không phải mười hai lạng."
Mẹ cậu đứng cạnh cột hiên. Mạc Cửu nhìn sang mẹ, vì cậu chắc mẹ sẽ nói một câu.
Mẹ cậu không nói câu nào. Bà quay vào bếp, và một lúc sau trong bếp có tiếng vo gạo, tiếng gạo xát vào lòng rá, đều và lâu hơn mọi hôm.
Đến giữa buổi, cha gọi cậu vào gian sổ.
Quyển sổ bìa xanh đã mở sẵn ở trang chi. Cha cậu mài mực rất lâu, mài tới lúc mực đặc kéo được sợi mới thôi. Mạc Cửu ngồi xuống mép chiếu, cách cha đúng một tầm tay.
Cha viết khoản thứ nhất: bốn xâu tiền, mua áo quan gỗ tạp và thuê người khiêng.
Khoản thứ hai: sáu đấu gạo, nấu cho người tới viếng, tính cả hai bữa.
Khoản thứ ba: hai trăm văn, mua hương, nến, và giấy bản.
Rồi ông đưa bút sang cột cuối cùng bên phải, cột hẹp nhất, cột mà trong sổ nhà họ Mạc xưa nay chỉ ghi mỗi khoản một chữ.
Ông viết: bệnh.
Nét bút không dừng lại ở chỗ đó. Nó đi qua đúng bằng cái tốc độ đã đi qua ba khoản phía trên, không nhanh hơn, không chậm hơn, và cái móc cuối cùng của chữ hất lên rồi ngừng, gọn, như mọi chữ khác trên trang.
Mạc Cửu nhìn chữ ấy nằm xuống mặt giấy.
Cậu là người duy nhất trong nhà đã vào kho lúc trời còn tờ mờ. Cậu là người biết mặt thóc lún một vệt hình bán nguyệt ở đâu, và biết cái then được rút ra rồi dựng tựa vào vách chứ không rơi xuống đất. Cậu biết trang giấy trước mặt cậu đang ghi một điều không đúng, và cậu biết cả nhà đều biết thế.
"Thổi cho khô," cha cậu nói.
Cậu cúi xuống, chụm môi, và thổi dọc theo dòng chữ, từ trái sang phải, cho tới khi mặt mực hết bóng.
Cha cậu gấp sổ lại và ngồi yên một lúc, mắt nhìn xuống cái tráp chứ không nhìn quyển sổ, rồi mới đứng dậy đi ra.
Chiều hôm ấy, khi ngoài sân đã đông người và trong bếp lửa đã đỏ, Mạc Cửu mở then kho thóc và vào một mình.
Cái nón vẫn nằm trên mép bồ, ngửa lên, đúng chỗ cũ, không ai đụng tới.
Cậu cầm nó bằng hai tay, mang về buồng mình, lấy cái áo cũ nhất trong hòm ra trải trên nền đất rồi đặt cái nón vào giữa. Cậu gấp hai tà áo lại quanh vành nón, gấp tiếp hai ống tay, và buộc hai ống tay thành một nút ở phía trên.
Rồi cậu đặt cái gói xuống đáy hòm, xếp mọi thứ của mình lên trên nó, đóng nắp, và cài chốt.
Chú thích
[1] Theo lệ luật đời Thanh, những trường hợp chết bất thường phải trình lên nha môn cấp huyện để khám nghiệm trước khi chôn cất; thủ tục này kéo dài, kèm lệ phí và tiền chi cho lại dịch, và trong nhiều trường hợp còn liên đới tới trách nhiệm của gia trưởng. Vì vậy các gia đình thường khai nguyên nhân là bệnh, và sổ nhà hoặc gia phả về sau chép lại đúng theo lời khai ấy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 11 →