Trưa tháng năm, nước đọng trong ruộng bốc lên thành một lớp hơi mỏng làm mặt đất lóa trắng, người đo phải nghiêng nón che ngang mắt mới nhìn ra được nút dây. Dây đo ruộng của nhà họ Đàm bện bằng gai, cứ một trượng thắt một nút, kéo căng thì phải hai người. Trên bờ có chừng mười lăm người. Lý trưởng, hai người nhà họ Đàm, một ông thư lại cầm sổ điền của huyện, mấy tá điền cũ đứng xem vì hôm nay ruộng không có việc. Mạc Cửu đứng dưới ruộng, quần xắn tới gối, bùn khô bám thành vảy ở bắp chân, quyển sổ bìa xanh mở trên cổ tay trái.
Cậu mười bốn tuổi và cậu là người duy nhất đứng dưới ruộng.
"Thửa này một mẫu hai," ông thư lại đọc. "Giáp bờ mương phía tây, giáp gốc me phía nam."
"Gốc me nào ạ," Mạc Cửu nói.
Trên bờ có tiếng ai đó hắng giọng. Ông thư lại nhìn xuống, nhìn lên sổ, rồi nhìn xuống lần nữa.
"Gốc me ghi trong địa bạ."
"Địa bạ lập năm nào ạ."
"Năm Thuận Trị thứ mười."
"Cây me ấy đổ năm Ất Tỵ. Bão tháng tám. Nhà cháu cưa lấy củi, gốc còn, nhưng nhà họ Trịnh xóm dưới đào lên trồng khoai từ ba năm trước." Cậu chỉ tay về phía nam, chỗ có một vệt đất sẫm hơn chạy chéo qua hai thửa. "Chỗ kia. Cách bờ hiện giờ chín trượng rưỡi. Bên bác đo từ bờ, sổ ghi từ gốc me. Lệch chín trượng rưỡi trên chiều dài, tính ra gần một mẫu."
Người nhà họ Đàm buông đầu dây xuống. Ông ta là người to ngang, tay đeo một cái nhẫn bạc bè, và từ nãy tới giờ chưa xuống ruộng lần nào.
"Nhà chú mày nói mồm thì ai chẳng nói được."
"Cháu không nói mồm." Mạc Cửu lật sổ. Cậu lật nhanh, không cần dò, vì cả quyển này ba năm nay đều là chữ của cậu. "Bác cho cháu đọc số thóc thu ba vụ liền của hai thửa này. Thu chiêm năm Đinh Mùi, mười một thạch tám đấu. Thu mùa cùng năm, chín thạch hai. Chiêm năm Mậu Thân, mười một thạch sáu. Mùa Mậu Thân, chín thạch. Chiêm năm nay, mười một thạch bảy."
"Rồi sao."
"Ruộng này năm nào cũng cho chừng ấy. Nếu diện tích đúng như bên bác vừa đo thì phải ra hơn, ít nhất một thạch rưỡi mỗi vụ. Ba năm là chín thạch. Chín thạch thóc không tự bốc hơi được. Hoặc là nhà cháu ba năm liền giấu thóc mà quên không giấu cho khéo, hoặc là cái dây của bác đang đo cả một khoảnh không phải của nhà cháu."
Lý trưởng bước xuống bờ. Ông ta đi chậm, tay chống một cái gậy tre, và ông ta không nhìn Mạc Cửu mà nhìn ông thư lại.
"Đo lại thửa ấy đi."
Họ đo lại. Lần này người của nhà họ Đàm phải tự xuống giữ đầu dây, giày cói ngập bùn tới mắt cá, và ông ta chửi một câu rất nhỏ khi bước hụt vào rãnh. Dây căng lên, nút thứ chín dừng đúng ở chỗ vệt đất sẫm. Ông thư lại ngồi xổm trên bờ, mài mực trong nắp ống, chữa lại con số trong sổ điền bằng cách gạch đi và viết đè ra bên cạnh, kiểu chữa mà cha Mạc Cửu suốt đời không cho phép cậu làm.
"Chín sào tám," ông ta nói. "Không phải một mẫu hai."
Được thửa ấy. Chỉ thửa ấy.
Còn lại thì không có gì để cãi, vì không có gì để cãi thật. Kỳ hạn chuộc của bốn thửa gò Đông đã qua từ tháng hai, thuế đinh năm nay tăng thêm hai phần mười, và nhà họ Mạc không có chỗ nào lấy ra được số tiền ấy ngoài chính chỗ đất đang bị đo. Mạc Cửu đứng nghe người ta đọc tên từng thửa, gật đầu từng thửa một, và mỗi lần gật cậu lại đưa bút lông chấm một dấu nhỏ vào lề sổ của mình, không phải để nhớ, mà để lát nữa về còn cộng.
Đến chiều thì xong. Người ta đóng cọc mốc mới, gỗ dương liễu còn tươi, chẻ vát một đầu, quét vôi trắng ở ngọn.
Cha cậu ngồi trên bờ suốt buổi, dưới gốc cây gạo đầu đường, nón đặt bên cạnh chứ không đội. Ông không xuống ruộng lần nào. Từ đầu năm ông đã đi phải chống gậy, và cứ chừng nửa canh giờ lại có một cơn ho kéo dài, thứ ho không ra tiếng ngay mà phải mất mấy hơi mới thành tiếng được.
Mạc Cửu lên bờ, rửa chân ở vũng nước đầu mương, rồi ngồi xuống cạnh cha.
"Giữ được thửa giáp bến," cậu nói. "Chín sào tám."
"Ừ."
"Bốn thửa gò Đông mất. Hai thửa ngoài đồng chua mất. Còn thửa này với mảnh vườn."
"Ừ."
Cậu chờ. Cha cậu không nói gì thêm. Ông nhìn ra cánh đồng, chỗ mấy cái cọc vôi trắng đứng thành một hàng thẳng cắt ngang chỗ mà từ đời ông nội tới giờ chưa từng có đường nào cắt ngang.
"Nhà mình bốn trăm mẫu," ông nói. "Con nhớ số ấy chứ."
"Con nhớ."
"Số ấy giờ chỉ còn trên giấy. Người ta gọi nhà mình là nhà quan cũng chỉ còn trên giấy." Ông với tay lấy cái nón, đặt lên đùi, xoay vành nón một vòng trong tay như đang tìm chỗ rách. "Con giữ được chín sào tám mà không cãi nhau một câu nào. Cha nhìn từ trên này. Cha không làm được thế lúc bằng tuổi con."
Rồi ông ho.
Cơn này dài hơn mọi cơn từ sáng. Ông cúi gập người xuống, một tay tì lên gậy, tay kia bụm miệng, và khi ho xong ông không mở bàn tay ra ngay. Ông đưa tay xuống vạt áo, chùi một cái, rất nhanh, rồi gấp vạt áo lại giấu vào trong.
Mạc Cửu nhìn thấy. Cậu không hỏi.
Cậu đứng dậy, xốc nách cha đỡ ông lên, đưa cái gậy vào đúng tay ông vẫn quen chống, và hai cha con đi về theo bờ mương lúc nắng đã xiên. Về tới nhà, cậu đốt đèn, mở quyển sổ tay riêng của mình ra trang cuối, chỗ cậu vẫn ghi những thứ chưa thành khoản.
Cậu viết ngày hôm nay. Chỉ ngày, không viết gì khác.
Chú thích
[1] Địa bạ (sổ điền) các huyện Quảng Đông đầu đời Thanh phần lớn được lập lại trong khoảng niên hiệu Thuận Trị, ghi ranh giới thửa theo mốc tự nhiên như gốc cây, bờ mương, đường đi, chứ không ghi tọa độ hay số đo tuyệt đối. Khi mốc tự nhiên mất đi, việc xác định lại ranh giới phụ thuộc vào trí nhớ người tại chỗ và vào các sổ sản lượng.
[2] "Điển" là chế độ cầm cố ruộng đất phổ biến ở Trung Hoa thời Minh Thanh: người cầm giao ruộng cho chủ nợ canh tác trong một kỳ hạn, giữ quyền chuộc lại; quá hạn không chuộc thì ruộng chuyển hẳn thành của chủ nợ, gọi là "tuyệt mại".
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 12 →