Ở bến Hải Khang, người ta ngửi thấy bến trước khi nhìn thấy nó.
Mùi nước mắm ủ trong chum sành xếp dọc bờ, mùi hắc ín đun nóng để trét mạch ván thuyền, mùi cá phơi trên phên tre và mùi bùn nước lợ mà thủy triều để lại mỗi ngày hai lần. Mạc Cửu gánh hai thúng thóc lẻ xuống theo con đường đá đã mòn lõm ở giữa, đi từ lúc gà gáy đợt hai, tới nơi thì mặt trời mới lên khỏi cột buồm. Thóc nhà cậu không đủ để bán cho lái lớn. Cậu bán cho mấy bà hàng xay ở đầu bến, mỗi bà một thúng, đong bằng thúng của họ chứ không phải của mình, và cậu đã quen với việc mình luôn thiệt chừng nửa đấu trong mỗi lần đong như thế.
Bán xong, cậu đang xếp lại đôi quang thì có người gọi.
"Thằng nhỏ."
Ông ta ngồi trên be một chiếc thuyền buồm cánh dơi ba buồm, đậu ở khúc nước sâu phía ngoài, cách ván cầu chừng bốn năm bước. Buồm hạ dở, những nan tre chống ngang còn xòe ra như xương một cái quạt gãy, vải buồm vá bằng bảy tám mảnh khác màu, mảnh nào cũng đã bạc tới mức không đoán được màu gốc. Người đàn ông mặc áo vải thô màu tro, tóc cạo đúng phép, đuôi sam ngắn và thưa. Tay ông cầm một cái ống điếu không châm lửa.
"Lúc nãy bà hàng xay đong của mày sáu thúng," ông nói. "Mày đếm bằng ngón tay không?"
"Cháu không đếm bằng ngón tay ạ."
"Mày biết chữ à."
"Cháu biết viết sổ."
Ông ta gật đầu một cái, ngắn, như người vừa kiểm xong một món hàng.
"Xuống đây. Có việc."
Việc là ba quyển sổ hàng đặt trên một cái hòm gỗ trong khoang giữa. Khoang thấp, Mạc Cửu phải ngồi khom, và trần khoang bốc mùi hắc ín tới mức chừng nửa canh giờ sau cậu thấy nặng ở đỉnh đầu. Có một ngọn đèn treo trên móc, lắc theo sóng, làm bóng chữ chạy qua chạy lại trên mặt giấy.
"Hai canh giờ," ông già nói. "Đối ba cuốn này với nhau. Chỗ nào vênh thì chỉ ra. Ba điều. Sổ không được mang ra khỏi khoang. Không được chép sang giấy khác. Không được hỏi hàng gì."
"Công bao nhiêu ạ."
"Nửa xâu tiền."
Mạc Cửu ngẩng lên. Nửa xâu tiền là công của một người lớn chép sổ suốt bốn ngày ở chợ huyện. Cậu biết con số ấy chính xác vì tháng trước cậu đã đi hỏi và người ta đã cười vào mặt cậu.
"Sao lại nhiều thế ạ."
"Vì hai canh giờ." Ông ta ngồi xuống xếp bằng ở góc khoang, tựa lưng vào vách, và đặt cái ống điếu ngang trên đùi. "Hết hai canh giờ tao nhổ neo. Xong hay không xong thì tao vẫn nhổ."
Cuốn thứ nhất viết chữ Hán chân phương, ngay ngắn, chữ nào ra chữ nấy, giống hệt lối cha cậu dạy. Cuốn thứ hai viết thảo, chữ nối vào nhau, nhiều chữ viết tắt theo lối người Triều Châu ghi hàng, và Mạc Cửu phải đọc lướt hết ba trang mới bắt được nhịp tay của người viết. Cuốn thứ ba không có chữ nào, chỉ có ký hiệu số của nhà buôn, những nét sổ và nét ngang xếp thành hàng dọc, thứ mà cậu mới thấy hai lần trong đời và cả hai lần đều ở chợ Hải Khang.
Đơn vị đong thì hai loại. Cuốn một ghi bằng thạch và đấu. Cuốn hai ghi bằng thúng.
Cậu làm ngược từ dưới lên, cách cha vẫn làm, vì cộng xuôi thì mắt quen tay và mắt sẽ bỏ qua chỗ sai. Đèn lắc, mồ hôi chảy vào mắt, và ngoài mạn thuyền có tiếng phu khuân vác dội chân trên ván cầu suốt buổi.
Chỗ vênh thứ nhất tìm được sau chừng nửa canh giờ. Một khoản ghi hai lần, một lần ở cuốn hai một lần ở cuốn ba, cách nhau bốn ngày, cùng một số lượng. Chỗ vênh thứ hai khó hơn nhiều, và cậu suýt bỏ qua vì con số chỉ lệch có một phần rất nhỏ, đều đặn, ở mọi khoản nhận hàng tại đầu bến phía bắc.
Cậu ngồi thẳng lên. Đầu cậu chạm trần khoang.
"Bác cho cháu xem cái thúng đong ở đây."
Ông già không hỏi tại sao. Ông với tay lôi từ dưới sạp lên hai cái thúng tre, đặt xuống sàn khoang cạnh nhau. Chúng cùng kiểu đan, cùng nước cật, nhưng một cái vành cao hơn cái kia chừng một đốt ngón tay.
"Cái này của đầu bến trên. Cái này của đầu bến dưới."
"Chênh nhau chừng một phần hai mươi ạ." Mạc Cửu chỉ vào cuốn sổ thứ hai. "Cả cuốn này người ta ghi bằng thúng, mà không ghi thúng nào. Chỗ nào nhận hàng ở bến trên thì cứ mỗi hai mươi thúng lại hụt một thúng khi quy ra đấu. Bốn tháng nay cộng lại là hai mươi ba thúng rưỡi. Không ai ăn cắp cả. Cái thúng ăn."
Ông già không nhìn vào sổ. Suốt cả buổi ông không nhìn vào sổ lần nào.
Ông đứng dậy, đi lên khoang trước, và khi quay lại thì trong tay có nửa xâu tiền kẽm buộc dây gai, cộng thêm một gói lá chuối buộc lạt, bên trong là cá khô mặn xếp lớp.
"Nửa xâu là công," ông nói. "Gói này là phần khác."
"Phần gì ạ."
"Phần mày ngồi hai canh giờ trong khoang mà không hỏi tao chở gì."
Mạc Cửu cầm cả hai bằng hai tay. Xâu tiền nặng, và cậu để ý thấy trong xâu có mấy đồng dày hơn những đồng còn lại, đúc bằng thứ đồng đỏ hơn, mép không mòn.
Trên ván cầu, nắng đã đứng. Người ta bắt đầu kéo buồm chiếc thuyền phía sau lưng cậu, nan tre bung ra từng nấc một, tiếng dây thừng riết qua ròng rọc gỗ.
"Nhà mày ở đâu," ông già hỏi.
"Thôn Lê Quách ạ."
"Nhà họ Mạc trên ấy còn giữ được phần bến không?"
Mạc Cửu dừng tay giữa lúc đang nhét gói cá vào thúng. Cậu không nhớ mình đã nói họ nhà mình cho ông ta nghe lúc nào.
"Còn ạ. Chưa bị khoanh."
Ông già gật đầu, ngậm cái ống điếu vẫn không châm lửa vào một bên mép, rồi quay lưng đi về phía lái.
"Tối nay nước lên thì ra đây," ông nói mà không quay lại. "Còn một xấp nữa. Với một chuyện tao muốn kể."
Chú thích
[1] Thuyền buồm cánh dơi (junk Hoa Nam) dùng buồm nan: vải buồm được chống ngang bằng các nan tre chia buồm thành nhiều nấc, cho phép hạ hoặc thu buồm từng phần mà không cần trèo cột, và vẫn ăn gió khi buồm đã rách nhiều mảnh.
[2] Lệnh cấm biển (hải cấm) của nhà Thanh được thi hành với mức độ khác nhau theo từng đợt và từng vùng; ở duyên hải Quảng Đông trước năm 1684 vẫn tồn tại nhiều hoạt động buôn bán ven bờ được làm ngơ hoặc mua chuộc ở cấp địa phương.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 13 →