Nước ròng rút qua chân cọc quán suốt đêm, tiếng nhỏ và đều, như có ai đó ở dưới sàn đang xé một tấm vải rất dài.

Xấp sổ thứ hai mỏng hơn xấp ban sáng và Mạc Cửu làm xong trước khi tắt đèn hàng cá. Không có chỗ nào vênh. Ông già nghe cậu nói câu ấy, gật đầu, rồi thay vì trả công ông chỉ tay lên bờ, chỗ có một cái quán lợp lá dừa nước dựng trên bốn cây cọc gỗ ngay đầu ván cầu, đèn dầu treo ở cột giữa, bàn tre không có ai ngồi.

Chủ quán bưng ra một ấm trà đất và hai cái chén sành đều mẻ miệng, cùng một đĩa lạc rang muối. Lạc bán theo bốc, mỗi bốc một văn, ông ta bốc ba bốc.

"Nước ba rồi đấy," chủ quán nói.

"Nước ba thì hợp với chuyện dài." Ông già rót cho Mạc Cửu trước.

Trà nhạt, hơi chát ở cuống lưỡi, và nóng hơn cậu tưởng. Ngoài kia thủy triều đang xuống để lộ dần chân cọc phủ hà, hai lớp hà bám thành vòng trắng đánh dấu mực nước cao nhất của mùa. Mấy thân thuyền nằm tối đèn, chỉ nhận ra được bằng chỗ chúng che khuất mặt nước sáng.

"Mỗi năm tao đi hai chuyến," ông già nói. "Một chuyến theo gió chướng xuống, một chuyến theo gió nồm về. Xuống thì ba mươi tám ngày nếu trời tử tế. Về thì lâu hơn, vì về thì nặng hàng."

"Xuống tới đâu ạ."

"Chân Lạp."

Mạc Cửu đã nghe hai chữ ấy ở chợ, từ miệng mấy người bán hồ tiêu, nhưng trong đầu cậu nó vẫn chỉ là một chỗ nằm ở cuối một câu nói chứ không phải một chỗ có thật. Cậu đặt chén xuống.

"Ở đó có huyện không ạ."

Ông già cười. Ông cười bằng cách thở ra bằng mũi, không nhếch mép.

"Có vua. Vua có quan. Quan có sổ. Nhưng chỗ tao đậu thuyền thì không nằm trong sổ nào cả." Ông cầm một hạt lạc, bóc vỏ lụa bằng hai ngón, không ăn ngay. "Có một cái bến tao ghé bảy năm liền. Năm đầu trên cột cờ có cờ. Năm thứ ba cờ khác. Năm thứ năm không còn ai buồn kéo cờ, chỉ còn cái cột. Năm ngoái người ta hạ luôn cái cột xuống làm cầu bắc qua rãnh."

"Rồi ai giữ trật tự ở đấy ạ."

"Mày hỏi hay đấy." Ông ăn hạt lạc. "Ở đấy có một lão bán vôi ăn trầu. Lão cho đám phu vay tiền tháng, ai vay thì lão ghi. Có lần hai thằng thủy thủ đâm nhau vì một con đàn bà, một thằng chết. Không ai đi báo quan, vì không có quan để báo. Đám phu trói thằng còn sống lại, đem tới trước cửa nhà lão bán vôi, đứng chờ."

"Chờ gì ạ."

"Chờ lão nói thằng ấy còn nợ ai không."

Mạc Cửu ngồi im. Ở dưới sàn, nước rút thêm một nấc, và một con cua bò trên bùn phát ra tiếng lạo xạo rất khẽ.

"Rồi sao ạ."

"Nó còn nợ mười một tháng. Thế là nó không chết. Nó phải đi biển trả cho hết mười một tháng ấy, người ta chia nhau canh nó. Nếu nó không nợ ai thì đêm ấy nó xuống nước." Ông già rót thêm trà, cho cậu trước, vẫn thế. "Mày nghe ra chưa. Ở những bến ấy, người ta không hỏi anh là dân của ai. Người ta hỏi anh nợ ai."

Cậu nghe ra. Cậu nghe ra rõ tới mức thấy lạnh ở sau gáy giữa một đêm không lạnh.

Cả đời cậu tới giờ, mọi thứ đều bắt đầu từ chỗ nhà cậu là dân của ai. Thuế thân tính vì nhà cậu là dân. Bốn thửa gò Đông mất vì sổ điền của huyện ghi thế. Cái đầu chú Thượng Nguyên phải cạo vì có người trên kia quyết định rằng dân thì phải cạo. Không có một chỗ nào trong tất cả những chuyện đó mà một quyển sổ của riêng nhà cậu nói được lấy một câu.

"Bác học nghề sổ ở đâu ạ," cậu hỏi.

Ông già không trả lời ngay. Ông xoay cái chén trong tay, và Mạc Cửu thấy đầu ngón tay ông có một vệt chai nằm ngang, đúng chỗ mà người cầm bút lông lâu năm nào cũng có, đúng chỗ cha cậu có.

"Có một người dạy tao."

"Người ấy ở đâu ạ."

"Không ở đâu cả." Ông đặt chén xuống. "Ông ta không có tên. Tao đi với ông ta bốn năm, tao không biết tên ông ta, và tao không phải người duy nhất như thế. Nghe nói ông ta chết lâu rồi. Nghe nói thôi."

"Nhưng bác gọi người ta bằng gì ạ."

"Tao không gọi. Tao đưa sổ, ông ta xem, ông ta trả." Ông già với tay lấy cái ống điếu ban sáng, gõ nhẹ hai cái xuống mặt bàn tre, rồi nhét vào ngực áo. "Thôi. Chuyện ấy hết rồi."

Mạc Cửu hỏi lại lần nữa, hỏi nhỏ hơn, và lần này ông già làm như không nghe thấy.

"Gạo bên đó," ông nói, "một đấu ăn ba văn rưỡi. Có năm mất mùa lên năm văn. Chợ Hải Khang sáng nay mày bán thóc được bao nhiêu?"

"Thóc chứ không phải gạo ạ. Chín văn một đấu."

"Xay ra thì thành mười bốn, mười lăm." Ông già nhìn ra cửa sông. "Bên đó cá nhiều tới mức người ta không thèm phơi hết. Muối thì đắt, vì họ không làm được muối tốt. Sắt thì đắt gấp bốn bên này. Còn giấy, giấy bản thì họ phải mua của người mình."

"Sao bác kể cháu mấy con số ấy."

"Vì mày là đứa duy nhất ở cái bến này hôm nay hỏi tao chuyện gì cũng bằng câu hỏi có số trong đó."

Ông đứng dậy. Chủ quán chống tay lên phản, đợi.

Ông già thò tay vào thắt lưng lấy ra một đồng tiền, đặt xuống mặt bàn tre. Trong ánh đèn dầu, Mạc Cửu thấy nó không phải tiền kẽm, cũng không phải tiền đồng Khang Hy mà cậu đếm mỗi ngày. Nó dày hơn, đỏ hơn, lỗ vuông ở giữa nhỏ hơn, và bốn chữ trên mặt tiền là bốn chữ cậu chưa từng thấy trong bất cứ quyển sổ nào của nhà mình.

Chủ quán đưa tay ra cầm lấy, bỏ vào cái ống tre đựng tiền, và không hỏi một câu nào.

Chú thích

[1] Chân Lạp cuối thế kỷ 17 kiểm soát vùng duyên hải phía vịnh Xiêm bằng hệ thống quan trấn địa phương; nhiều thương cảng nhỏ trong vùng nằm ngoài tầm quản lý thường xuyên của triều đình, đổi chủ theo các đợt tranh chấp giữa các phe hoàng tộc và giữa Chân Lạp với Xiêm.

[2] Tại các bến biển Hoa Nam đương thời, tiền đồng nhiều nguồn lưu hành song song: tiền các triều đại trước, tiền đúc lậu tại địa phương, tiền Nhật Bản và tiền Việt Nam theo thuyền buôn vào. Người thu tiền định giá theo trọng lượng và chất đồng chứ không theo niên hiệu ghi trên mặt.

Hết Chương 13
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 14 →
← TrướcTiếp →