Bát cơm của chú vẫn để nguyên trên chiếu tới sáng, mặt cơm se lại thành một lớp vỏ mỏng. Mạc Cửu nhìn nó một lượt trước khi bước qua ngưỡng cửa. Mẹ cậu dúi vào tay cậu gói gạo nửa đấu buộc bằng lá chuối khô, thắt chéo hai vòng theo lối buộc đồ đi xa. Cậu ôm gói gạo bằng một tay, tay kia ôm cái nghiên mực bọc trong mảnh vải nâu, đi sau lưng cha ra ngõ lúc trời còn chưa rõ mặt người.

Đường sang làng bên hết chừng một canh giờ, cắt ngang mấy thửa ruộng gặt từ mùa trước mà chưa ai cày lại. Sương đọng trên gốc rạ, ướt lên tới ống quần. Cha cậu đeo tráp sổ bên hông, bước đều, không nhanh không chậm, kiểu đi của người đã đi con đường này nhiều lần và biết chính xác mình sẽ tới lúc nào.

"Trang mười một," cha nói, mắt vẫn nhìn đường. "Dòng thứ tư. Đọc."

"Bốn xâu tiền, vay tháng tám năm Kỷ Hợi." Cậu nhẩm trong bụng trước khi mở miệng, vì cậu biết còn câu hỏi nữa ở phía sau. "Trả nửa xâu tháng ba năm Canh Tý. Còn ba xâu rưỡi."

"Quá hạn mấy tháng."

Cậu đếm bằng ngón tay giấu trong vạt áo. "Hai mươi tháng ạ."

"Hai mươi hai."

Cậu đếm lại. Lần này ra hai mươi hai thật. Cậu im, và trong cái im ấy cậu tự hứa với mình rằng lần sau sẽ đếm hai lượt trước khi trả lời.

"Đòi hết trong buổi sáng thì trưa mình về tới nhà," cậu nói.

"Đòi được bao nhiêu không phải việc của người đi đòi." Cha cậu vẫn không quay lại. "Việc của người đi đòi là biết còn đòi được hay không. Hai chuyện khác nhau."

Tới cổng làng bên thì sương đã tan bớt, chỉ còn đọng thành từng vệt trắng dưới các lùm tre. Có một con trâu buộc ở gốc cây gạo, gầy tới mức nhìn rõ từng dẻ xương sườn, đứng nhai lại thứ gì đó rất chậm. Ba nếp nhà tranh đầu xóm đều đóng cửa. Không phải kiểu đóng ban ngày để tránh nắng, mà kiểu đóng của nhà không có người trong.

Cha cậu rẽ vào lối thứ hai, đi thẳng, không hỏi ai.

Ngôi nhà nằm cuối lối, mái tranh sụp một góc phía sau bếp, sụp hẳn xuống chứ không phải dột, để lộ mấy cây đòn tay mục ngửa lên trời. Cửa mở toang. Trên ngưỡng cửa có một đứa nhỏ ngồi, chân co lên ngực, nhỏ hơn Mạc Cửu chừng hai ba tuổi, tóc bết thành từng đám.

Nó nhìn hai cha con đi vào và không đứng dậy.

Trong nhà không còn gì. Không phản, không chiếu, không hòm, không cả cái cối giã. Nền đất còn in bốn vệt lõm chỗ trước kia kê chân giường. Ở giữa gian, đúng chỗ trống nhất, có một cái nồi đất đặt úp, tráng men ở lòng, quai sứt mất một bên.

Mạc Cửu bước tới gần bếp. Mùi tro nguội bốc lên, thứ mùi hăng và khô của tro đã không được đun mấy ngày liền, không lẫn được với mùi khói.

"Cha nó chết tháng trước," có tiếng đàn bà nói ở ngoài. Một người hàng xóm đứng ngoài hàng rào, không bước vào sân. "Nằm ba hôm mới có người biết. Mẹ nó thì đi từ mùa trước, chưa thấy về."

"Trong họ còn ai không," cha cậu hỏi.

"Còn. Nhưng không ai nhận đâu ông ạ." Người đàn bà kéo vạt áo che ngang mũi, như trong nhà còn mùi gì. "Nhận thì nhận cả nợ. Ai dại."

Cha cậu gật đầu một cái, rất khẽ, cái gật của người nghe đúng thứ mình đã đoán.

Ông cởi tráp, mở sổ ra ngay tại sân, quỳ một gối xuống, đặt sổ lên đùi. Rồi ông dừng lại.

Mạc Cửu nhìn theo tay cha và hiểu vì sao. Giấy bản đi cả buổi trong sương đã mềm ra, mép trang hơi vênh lên, sờ vào thấy mát và nhũn. Viết vào lúc này thì mực loang, một nét thành ra ba nét.

Cha cậu không sốt ruột. Ông cầm quyển sổ mở ngửa trên hai bàn tay, đưa ra chỗ có gió, xoay mặt trang về phía sáng, và ngồi yên như thế. Đứa nhỏ trên ngưỡng cửa nhìn ông làm việc ấy chằm chằm. Ngoài xóm có tiếng gà, một con, rồi thôi.

Chờ đủ lâu, cha cậu thử mép giấy bằng đầu ngón tay, rồi mới mài mực. Nghiên mực Mạc Cửu ôm suốt đường vẫn còn ẩm hơi sương, ông phải mài lâu hơn thường lệ mới đặc lại.

Ông kẻ một nét ngang qua dòng thứ tư trang mười một. Một nét thôi, thẳng, không run, không kéo dài quá chữ cuối. Xong ông thổi cho khô, không thổi mạnh, rồi gấp sổ.

"Cha," Mạc Cửu nói. "Sao cha lại xóa."

"Xóa để khỏi phải nhớ."

"Cha bảo chỗ nào không có chấm là chỗ cha biết mất rồi mà chưa muốn xóa."

Cha cậu cất sổ vào tráp, buộc dây. "Giờ cha muốn."

Ông đứng dậy, phủi đầu gối. Đi qua chỗ cái nồi, ông dừng lại, cúi xuống, và Mạc Cửu tưởng cha định lấy nó. Người ta vẫn làm thế. Nợ không đòi được thì khiêng về cái gì khiêng được, ai cũng biết vậy, cả xóm này cũng biết vậy, chắc đó là lý do người đàn bà kia đứng ngoài rào mà chưa chịu đi.

Cha cậu không lấy. Ông chỉ lật cái nồi lại cho ngửa lên, đặt xuống đúng chỗ cũ.

Rồi ông cầm gói gạo trong tay Mạc Cửu, đặt vào lòng nồi.

"Nửa đấu," ông nói với đứa nhỏ ở cửa, giọng như đang dặn người trong nhà chuyện bếp núc. "Nấu loãng thì được sáu bữa. Đừng nấu đặc."

Đứa nhỏ không đáp. Nó nhìn cái nồi, rồi nhìn Mạc Cửu, rồi hỏi một câu duy nhất trong cả buổi sáng ấy.

"Chú không lấy nồi à?"

Cha cậu đã ra tới đầu ngõ. Ông không nghe thấy, hoặc nghe rồi mà không quay lại.

Đường về ngược nắng, sương tan hết, ruộng khô trải ra hai bên trắng xóa gốc rạ. Mạc Cửu đi sau cha, tay không còn gói gạo nên hai tay ôm nghiên mực cho chắc. Cậu không hỏi thêm câu nào.

Trong đầu cậu, con số vẫn nằm nguyên chỗ của nó. Ba xâu rưỡi. Hai mươi hai tháng. Cậu nhẩm lại lần thứ tư, rành mạch từng chữ, và đi thêm một quãng nữa mới thấy hai tay mình vẫn đang ôm cái nghiên mực chặt đúng như lúc sáng ôm gói gạo.

Chú thích

[1] Từ năm 1661 nhà Thanh ban lệnh "thiên giới", buộc dân cư dải duyên hải các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang dời sâu vào trong đất liền và bỏ hoang vùng đã dời. Việc dời dân kèm theo mất ruộng, mất nghề và các đợt đói kéo dài; hiện tượng bỏ làng, cả hộ tuyệt tự được chép trong nhiều địa phương chí Quảng Đông cuối thế kỷ 17.

Hết Chương 3
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 4 →
← TrướcTiếp →