Sang ngày thứ tư, mặt trời không lên.
Trời sáng ra được chừng một khắc rồi tối lại, tối dần chứ không tối đột ngột, và tới lúc lẽ ra phải đứng bóng thì cả mặt biển chuyển sang màu chì như buổi chiều muộn. Gió đổi chiều ba lần trong nửa canh giờ. Nước dựng lên không thành từng ngọn mà thành từng khối dài, chạy tới, nâng thuyền lên rồi thả xuống, và mỗi lần thả xuống thì cả lòng khoang kêu răng rắc ở chỗ mối ván.
Tăng Lão Ngũ cho hạ buồm khi chiếc nan trên cùng bắt đầu gãy.
"Hạ nửa. Nửa thôi." Ông ta hét, và hai người thủy thủ thả dây theo, cái buồm cánh dơi cụp xuống một nửa như cánh gãy. "Hết thảy vào giữa. Đàn bà trẻ con vào trong. Đàn ông tát nước."
Nước đã vào tới mắt cá.
Thùng gỗ có bốn cái, loại thùng đóng đai tre, múc đầy thì nặng hơn một thúng thóc. Người ta xếp thành hàng từ lòng khoang lên mạn, chuyền tay, đầy chuyền lên, không chuyền xuống, ai đứng đầu hàng thì dốc ra ngoài rồi ném ngược thùng lại. Có người đếm thành tiếng. Đếm tới một trăm thùng thì đổi lượt, người đang tát lùi vào, người ngồi nghỉ bò ra thế chỗ.
Mạc Cửu vào lượt thứ hai.
Trước khi bò ra, cậu tháo bọc đồ khỏi lưng, nhét sâu vào khe giữa hai cái hòm ở chỗ cao nhất trong khoang, cái nón dựng đứng úp lên trên. Cậu tính giữ cho nó khô. Được chừng ba mươi thùng thì người đứng sau cậu trượt tay, thùng nước đổ ngược vào vai cậu, và cậu hiểu ra chuyện giữ khô là chuyện của một chiếc thuyền khác.
Cậu bỏ bọc. Hai tay rảnh thì chuyền nhanh hơn được một nhịp.
Ở khoang sau có tiếng cãi. Hai người đàn ông giằng nhau một ống tre, ống bật ra khỏi tay, lăn xuống nước đọng dưới sàn rồi trôi về phía mũi. Một người bò theo. Tăng Lão Ngũ đạp vào vai người ấy, không nói gì, chỉ chỉ tay về hàng thùng.
Đếm tới một trăm lần thứ tư thì thuyền nghiêng.
Nó nghiêng lâu hơn mọi lần trước. Sàn khoang dựng lên tới mức người ta phải bám mới ngồi được, và cả một mảng người bị dồn trượt về phía mạn phải, kéo theo hòm, gói, thùng, cái cối đá con của nhà bốn người.
A Sáu bật ra khỏi đám ấy.
Nó bị hất vào khoảng trống sát mạn, chỗ không có gì để bám ngoài sợi dây neo cuộn sẵn ở đó. Nó chộp được. Dây bện gai to bằng cổ tay, ngấm nước ba ngày thì cứng lại như một khúc gỗ, không bóp lõm được, và bàn tay một thằng bé mười hai tuổi ôm không hết vòng dây.
Cậu buông thùng, chồm tới.
Cậu nắm được vạt áo nó. Đúng một nhịp, đủ để thấy vải căng ra trong mấy ngón tay và thấy nó ngẩng lên nhìn cậu, miệng há ra định gọi. Rồi đợt sóng thứ hai đổ xuống mạn, và trong tay cậu chỉ còn nước.
Ai đó phía sau hét gọi lấy dây. Không kịp buộc vào người ai.
Thuyền trả lại thăng bằng chậm chạp, từng chút một. Hàng thùng lập lại. Người đếm cất tiếng đếm tiếp từ số một.
Bão tan lúc gần tối, tan cũng chậm như lúc lên.
Mặt biển sau đó đục ngầu, không xanh cũng không chì, màu nước gạo, lềnh bềnh những mảnh gì đó không rõ của thuyền nào. Người ngồi rũ dọc khoang ướt, không ai nói. Có tiếng ho, tiếng nôn khan, và tiếng nước còn đọng dưới sàn óc ách theo nhịp thuyền lắc.
Tăng Lão Ngũ đi một lượt, cầm đèn, đếm.
Ông ta đếm hai lượt như đêm xuống thuyền. Đi và về.
"Ba mươi," ông ta nói.
Không ai hỏi lại. Không ai mở sổ nào ra, vì không có sổ nào. Chú của A Sáu ngồi ở khoang sau, hai tay ôm đầu gối, và người ngồi cạnh vỗ vào lưng ông ta hai cái rồi thôi, kiểu vỗ của người biết mình chẳng có gì để nói thêm.
Một người thủy thủ tới chỗ giá gỗ. Anh ta lần theo hàng ống tre, tìm cái ống có ba vạch khắc chụm, rút nó ra, đổ chỗ nước còn lại vào ống bên cạnh, rồi ném cái ống không xuống khoang củi.
Trên giá còn ba mươi lăm cái. Chỗ trống nằm giữa hàng, rộng đúng bằng một ống tre, và không ai xích lại cho kín.
Mạc Cửu bò tới khe giữa hai cái hòm lấy bọc đồ ra.
Cuộn giấy trong lớp trong bị ướt một góc, mực nhòe hai dòng, nhưng ba mươi tư tờ còn đủ. Cậu trải ra sàn cho ráo, rồi ngồi nhìn chúng một lúc.
Không còn tờ giấy trắng nào trên thuyền. Cậu đã hỏi hai người trong khoang, và cả hai đều lắc đầu trước khi cậu hỏi hết câu.
Cậu bò xuống khoang củi, nhặt một mẩu than trong đống tro nguội chỗ nấu bếp. Rồi cậu lộn mặt trong cái túi vải ra.
Vải gai dệt nhà, thô, sợi nổi rõ. Than đi trên nền vải ấy không ra nét đen mà ra nét xám, ăn vào giữa các sợi, và muốn viết cho rõ thì phải đè mạnh và đi hai lượt. Cậu viết ở góc dưới, chỗ khuất nhất, ba chữ.
Cậu viết chậm. Nét ngang thì được, nét sổ thì than bị gãy hai lần, phải bẻ lấy đầu mới.
Viết xong cậu thổi cho bay vụn than, rồi lấy ngón tay cái miết thử một góc chữ xem có bay không. Nó không bay. Nó chỉ nhòe ra một chút và ăn sâu thêm vào sợi vải.
Cậu lộn túi lại như cũ.
Có bóng đèn hắt tới. Tăng Lão Ngũ đứng ngay đó, đèn xách thấp ngang gối, nhìn xuống hai bàn tay cậu.
"Cậu viết cái gì đấy."
"Tên thằng bé."
Ông ta im một lát. Ngoài mạn, nước vỗ vào ván thuyền ba tiếng rồi lặng.
"Xóa đi," Tăng Lão Ngũ nói. "Mang tên người chết đuối vào bến thì xui cả thuyền. Xóa đi rồi tôi cho cậu một ống nước."
Chú thích
[1] Vùng biển quanh đảo Hải Nam, thời ấy gọi là Quỳnh Châu, nằm trên đường đi của các cơn bão nhiệt đới từ tháng năm tới tháng mười một; các thuyền buôn đường dài từ Hoa Nam xuống vịnh Xiêm thường chọn đi men theo bờ để tránh bị đẩy ra khơi khi gặp bão.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 20 →