Tấm ván bắc từ bờ ra mạn thuyền rộng đúng một bàn chân rưỡi.
Lạch nằm sâu trong rừng đước, cách Hải Khang nửa đêm đường bộ, và tới đó thì trăng đã lặn từ lâu. Không ai đốt đuốc. Cả bến chỉ có một cái đèn lồng che ba mặt bằng giấy dầu, treo ở đầu ván, hắt xuống một vũng sáng vừa đủ soi chỗ đặt chân. Người xuống thuyền đi thành hàng một, ai vấp thì có người phía sau đỡ khuỷu tay, và trong suốt lượt xuống ấy không ai gọi tên ai to tiếng.
Chủ thuyền đứng ngay đầu ván, tay trái xách đèn, tay phải giữ cái túi vải buộc thắt lưng.
"Tăng Lão Ngũ," ông ta tự xưng khi Mạc Cửu đưa tiền, giọng Phúc Kiến nặng, chữ nào cũng như bị cắn cụt một nửa. "Đếm lại đi. Xuống rồi thì tôi không nghe cãi."
Cậu đếm. Ba xâu rưỡi tiền kẽm, đúng giá chỗ ở khoang mũi.
"Chỗ khoang giữa còn không."
"Còn hai chỗ. Năm xâu." Ông ta không nhìn cậu, mắt đưa theo người tiếp sau. "Mà hai chỗ ấy trả rồi. Trả từ hôm kia."
"Trả trước cả tiền chỗ à."
"Ai cũng biết khoang giữa ít lắc. Người biết trước thì trả trước." Tăng Lão Ngũ nhét ba xâu rưỡi vào túi, không đếm lại. "Xuống đi. Mũi thuyền mà biết nằm thì cũng ngủ được."
Cậu bước qua ván. Quang gánh cậu tháo ra, bó lại thành một bọc dài đeo chéo lưng, cái nón buộc ngoài cùng.
Trên khoang, người ta ngồi chen nhau giữa hòm và gói. Có một nhà bốn người mang theo cả cối đá con. Có hai người đàn ông trung niên đi tay không, chỉ mỗi cái bọc nhỏ ôm trong lòng, kiểu người đã đi chuyến này ít nhất một lần. Mùi trong khoang là mùi hắc ín trét mạn trộn với mùi cá muối trong thùng gỗ xếp dọc lòng thuyền, và cái mùi ấy đặc tới mức nửa canh giờ sau cậu không còn ngửi thấy nữa.
Gần như ai cũng mang theo cùng một thứ. Cơm nắm muối vừng gói trong lá chuối hơ lửa, buộc lạt, đủ ăn ba ngày đầu, vì qua ngày thứ tư thì lá chuối bắt đầu ướt và cơm chua. Người ta gói sẵn ở nhà, mỗi nắm bằng nắm tay, và xếp trên cùng trong bọc cho dễ lấy.
Xuống hết người thì Tăng Lão Ngũ đi dọc khoang, cầm đèn soi từng mặt, miệng đếm.
Ông ta đếm hai lượt. Lượt đi và lượt về.
"Ba mươi mốt," ông ta nói với một người thủy thủ. Rồi nói to hơn, cho cả khoang. "Ba mươi mốt người. Không ai lên bờ nữa. Ai đổi ý thì bây giờ nhảy, tôi không trả tiền."
Không ai nhảy.
Buồm kéo lên lúc nước bắt đầu ròng. Hai người thủy thủ đứng hai bên kéo dây thừng bện gai, kéo theo nhịp hò khẽ, và cái buồm nan cánh dơi mở ra từng nếp một như một con dơi rũ cánh. Nan tre cọ vào nhau kêu lách cách suốt lúc mở, thứ tiếng khô và đều, và về sau mỗi lần trở gió là cậu lại nghe đúng cái tiếng ấy.
Thuyền ra khỏi lạch thì Tăng Lão Ngũ nói luật.
Ông ta nói đứng, một tay vịn cột buồm, không dài dòng.
"Nước ngọt để ở khoang sau. Bảy vò. Mỗi người một ngày một ống, phát lúc mặt trời đứng bóng. Ống có khắc vạch, ai vạch nấy, không đổi." Ông ta chỉ cái giá gỗ đóng vào vách, trên đó xếp một hàng ống tre cụt, mỗi ống một hai ba vạch dao khắc ở miệng. "Ai nôn thì mất suất hôm ấy. Nôn ra rồi uống vào thì cũng thế thôi, phí nước tôi. Ai làm đổ thì không có bù. Đổ của mình thì nhịn, đổ của người ta thì trả bằng suất của mình."
"Đi mấy ngày ạ," một người đàn bà hỏi.
"Thuận gió thì tám. Ngược thì mười. Tôi đi hai mươi năm nay, chưa lần nào quá mười hai."
Ông ta ngồi xuống, coi như xong việc.
Mạc Cửu ngồi ở mũi, lưng tựa vào bọc đồ, và nhẩm.
Bảy vò sành, loại vò ông ta chỉ, cỡ vò đựng mắm ngoài chợ huyện, mỗi vò rót được chừng bốn mươi ống. Bảy vò là hai trăm tám mươi ống. Trên thuyền có ba mươi mốt người khách và năm người của ông ta, tính cả ông ta là ba mươi sáu. Ba mươi sáu suất một ngày. Hai trăm tám mươi chia cho ba mươi sáu.
Bảy ngày. Bảy ngày với một chút lẻ.
Cậu nhẩm lại lần nữa, chậm hơn, phòng khi mình nhớ sai cỡ vò. Kể cả rộng tay cho mỗi vò năm mươi ống thì cũng chỉ ra chín ngày rưỡi.
Ông ta nói mười. Chưa lần nào quá mười hai.
Cậu ngồi im. Trong bóng tối chẳng ai nhìn mặt ai, và ở mũi thuyền thì gió thổi ngang, hất tóc vào mắt cậu suốt.
Gần sáng, có đứa bò tới ngồi cạnh.
Một thằng bé, chừng mười hai, cởi trần, quần cộc buộc dây chuối, tóc cắt cụt sát da đầu kiểu người ta cạo cho khỏi chấy. Nó không hỏi gì, chỉ ngồi xuống sát bên, cách đúng một gang tay, rồi ngồi im như thể chỗ ấy là chỗ của nó từ đầu.
Được một lúc nó nói.
"Anh biết chữ hả."
"Sao biết."
"Lúc nãy anh đưa tiền, anh nhìn cái ống tre trên giá. Ai không biết chữ thì không nhìn cái vạch."
Cậu quay sang. Mắt thằng bé sáng, thứ sáng của đứa thức trắng vì lạ chỗ.
"Tên gì."
"A Sáu."
"Sáu là thứ sáu à."
"Không biết. Người ta gọi vậy." Nó gãi cổ. "Nhà em ở dưới Từ Văn. Em đi với chú em, chú em nằm đằng kia, chú em say sóng rồi."
"Chữ thì chưa dạy được," cậu nói. "Tối quá. Đếm thì đếm được."
Cậu chỉ tay về phía giá gỗ. Hàng ống tre nằm đó, sẫm hơn nền vách một chút, và ánh sáng đầu ngày vừa đủ để phân được cái nọ với cái kia.
"Đếm đi. Từ đầu bên trái."
Nó đếm tới bảy thì lộn, quay lại đếm từ đầu. Lần thứ hai nó đếm tới mười một rồi ngừng, ngờ ngợ nhìn cậu, và cậu gật đầu bảo đếm tiếp.
Ba lượt thì nó đếm hết được cái giá.
"Ba mươi sáu," nó nói.
"Ừ. Ba mươi sáu."
Thằng bé cười, tự dưng khoái chí, rồi nằm luôn xuống sàn khoang ngủ, đầu gối lên chân cậu, tự nhiên như gối lên chân người nhà.
Cậu ngồi yên cho nó ngủ. Trời hửng dần, mặt nước phía đông chuyển từ đen sang chì. Đằng sau lưng cậu, cái giá gỗ với ba mươi sáu cái ống tre đã hiện rõ từng cái một, và cậu vẫn không nói với ai con số bảy ngày.
Chú thích
[1] Trong thời gian thi hành lệnh cấm biển, việc vượt biển từ vùng duyên hải Hoa Nam xuống Đông Nam Á chủ yếu diễn ra qua các chuyến thuyền tư nhân không đăng ký, xuất phát từ các lạch nhỏ khuất tầm kiểm soát của tuần biển.
[2] Nước ngọt trên thuyền buồm đường dài được trữ trong vò sành hoặc thùng gỗ đặt ở khoang thấp cho vững thuyền, và chia theo khẩu phần cố định mỗi người mỗi ngày; thuyền đi tuyến ngắn ven bờ thường tính toán ghé bến lấy nước bổ sung dọc đường.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 19 →