Cuốn sổ nhà họ Mạc dày một trăm mười hai tờ, đếm cả tờ bìa.
Mạc Cửu ngồi xổm trước ông đầu rau, gối kê cuốn sổ mở, bên cạnh là con dao rọc giấy cán tre lưỡi đã mòn vẹt tới mức chỉ còn ăn giấy chứ không ăn được gỗ nữa. Lửa trong bếp nhỏ, đủ một vòng sáng bằng cái nong. Củi là gộc dương liễu đào ở ven bến hồi tháng trước, thứ gỗ ngâm nước mặn lâu ngày nên cháy đượm mà khói hắc, xông lên rát mắt.
Cậu đã ngồi đó từ lúc trong nhà tắt đèn.
Việc tưởng đơn giản. Sổ ghi hai chiều: chiều nhà họ Mạc cho người ta vay, và chiều nhà họ Mạc vay người ta. Ông nội cậu ghi chiều thứ nhất là chính, tới đời cha thì chiều thứ hai mỗi năm một dài ra, và vì giấy bản đắt nên cha cậu không mở sổ mới. Ông ghi tiếp vào chỗ nào còn trắng.
Nên trên nhiều tờ, hai chiều nằm chung một mặt giấy.
Tờ thứ hai mươi chín là một tờ như thế. Nửa trên là ba khoản nhà họ Trịnh xóm dưới vay từ đời Nhâm Thìn, chưa trả hết, cạnh dòng cuối có một chấm mực nhỏ lệch sang phải. Nửa dưới là khoản nhà cậu vay nhà họ Đàm ngoài chợ huyện, vay bằng thóc trả bằng thóc, còn nợ mười một đấu. Cậu không cắt được tờ ấy làm đôi mà không cắt mất một dòng của cả hai bên.
Cậu lấy ra một xấp giấy bản mua từ hôm kia, mài mực trong nắp chén, và chép lại.
Chép theo lối cha dạy: không chữa, sai một chữ số thì bỏ cả tờ chép lại từ đầu. Cậu chép mười bốn tờ như vậy, mỗi tờ chỉ lấy phần chiều dưới, phần nhà mình đang mắc. Số đấu thóc, số xâu tiền, tên chủ nợ, ngày tháng, và mỗi khoản một dòng, không thêm chữ nào.
Tới tờ thứ chín cậu chép nhầm một con số bảy thành số chín. Cậu ngồi nhìn nó một lát rồi vò tờ giấy ném vào bếp. Nó bén rất nhanh vì mực chưa khô.
Xong mười bốn tờ thì canh ba đã qua.
Cậu xếp ra hai chồng. Chồng bên phải là phần nhà họ Mạc đứng làm chủ nợ, gồm cả những tờ nguyên vẹn lẫn phần trên của những tờ vừa cắt: bảy mươi ba tờ. Chồng bên trái là phần nhà họ Mạc đứng làm con nợ, gồm mười bốn tờ chép lại và hai mươi tờ cũ: ba mươi tư tờ.
Cậu đếm lại chồng bên phải lần thứ hai. Bảy mươi ba.
Rồi cậu bắt đầu đốt.
Cậu đốt từng tờ một, không bốc cả nắm quăng vào. Giấy bản gặp lửa thì không cháy ngay. Nó cong lên trước, oằn lại như con sâu đo, mép giấy ngả vàng rồi ngả nâu, và chỉ tới khi cái nếp cong ấy chạm được ngọn lửa thì mới bùng. Mỗi tờ cháy hết chừng một hơi thở dài. Đủ lâu để đọc được vài chữ ở mép chưa cháy.
Tờ thứ bốn có tên một người đã chết đói ở làng bên, khoản nợ ba đấu thóc, bên cạnh không có chấm.
Tờ thứ mười chín ghi bốn khoản của bốn nhà cùng xóm, cả bốn đều đã dời đi trong đợt thiên giới lần trước, và trong bốn nhà ấy thì hai nhà cha cậu đã tự tay đánh dấu là không đòi nữa.
Tờ thứ ba mươi mốt là chữ ông nội cậu. Nét to, hơi run, mực đen già.
Cậu đọc từng tờ như thế trong khoảng một hơi thở, không lâu hơn, rồi thả xuống. Tay cậu không run. Cái duy nhất cậu làm khác thường là đếm thành tiếng, rất khẽ, mỗi tờ một số, cách nhau đúng bằng thời gian một tờ cháy hết.
"Bảy mươi ba."
Tờ cuối cùng cháy xong, tro nằm thành một lớp dày phủ kín ông đầu rau, xốp và xám, còn giữ nguyên hình tờ giấy cho tới khi cậu lấy que cời chạm vào thì nó vỡ ra.
Cậu ngồi thêm một lúc, hai tay chống lên gối.
Rồi cậu quay sang chồng bên trái. Ba mươi tư tờ. Cậu vuốt phẳng, xếp cho ngay mép, cuộn tròn lại thành một cuộn to bằng cổ tay, buộc ngang bằng hai vòng lạt. Cái túi vải mẹ khâu treo trên mấu cột bếp. Cậu lấy xuống, banh cái khe hẹp của lớp trong ra, và nhét cuộn giấy vào.
Nó vừa. Rộng hơn một chút, đủ để sau này nhét thêm.
Cậu treo túi lại lên mấu cột rồi ra gian ngoài, kéo cái hòm gỗ dưới gầm phản ra. Hòm đựng đồ của chú Thượng Nguyên, đóng nắp từ năm cậu mười một tuổi và từ đó chỉ có mẹ cậu mở, mỗi năm một lần vào tháng bảy, để phơi.
Trong hòm có một cái áo cánh nâu gấp vuông, một cái điếu cày cụt, và cái nón.
Cậu bỏ áo sang bên, nhấc nón lên bằng cả hai tay. Nón nhẹ hơn cậu nhớ. Lớp lá ngoài đã giòn, mấy chỗ vành bị mọt ăn thủng thành lỗ bằng đầu đũa. Nhưng lớp trong vẫn còn nguyên, và cái đường khâu vá chú tự khâu lấy hồi ấy thì vẫn còn đó, mũi chỉ to, thưa, xiên xẹo, đúng đường chỉ của một người đàn ông không quen cầm kim khâu vá cái gì cho mình.
Cậu phủi bụi bằng ống tay áo. Bụi bám lâu năm nên phủi ba lần mới sạch.
Quang gánh cậu đã sửa từ chiều, thay một sợi mây ở đầu đòn. Cậu buộc cái túi vải vào một đầu, buộc cái nón vào ngoài cùng, úp ngửa lên trên cho khỏi bẹp, thắt quai hai vòng dưới đòn gánh.
Lúc cậu thắt vòng thứ hai thì cậu biết mẹ đang đứng ở cửa bếp.
Cậu không biết bà đứng đó từ bao giờ. Có thể từ lúc cậu đếm tới hai mươi, có thể từ lúc cậu mở hòm. Ánh lửa hắt tới chỗ bà chỉ đủ soi tới gấu quần và hai bàn chân trần trên nền đất.
Cậu không quay lại. Bà cũng không bước vào.
Được một lúc thì tiếng chân đi ra, ngang qua sân, và cánh cửa buồng khép lại nhẹ tới mức gần như không có tiếng.
Cậu dựng quang gánh vào góc bếp, chỗ khuất gió. Rồi cậu ngồi xuống lần nữa, cời tro cho lửa liếm hết mấy mẩu giấy còn sót ở rìa.
Tro giấy giữ than lâu hơn tro củi. Tới lúc gà gáy lượt đầu, gạt lớp xám trên mặt ra thì bên dưới vẫn còn đỏ, đỏ âm ỉ như một vốc than hoa vùi kỹ, và trong nhà không có ai hỏi cậu đêm qua đã đốt cái gì.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 18 →