Cọc mốc đầu tiên đóng xuống bến lúc trời còn chưa rõ mặt người.

Ba nhát búa một cọc, không hơn. Người của huyện đi trước cầm một cuộn dây gai, hai người lính đi sau cầm búa và thùng vôi, và sợi dây ấy căng thẳng băng từ mỏm đá đầu lạch chạy vào tận chân đồi. Nó cắt ngang sân phơi nhà họ Trịnh, cắt ngang nửa gian bếp nhà bà Tư bán mắm, rồi cắt ngang phần bến của nhà họ Mạc đúng chỗ cái cầu ván bắc ra nước. Dây không tránh cái gì cả. Dây thẳng thì mốc thẳng.

Mạc Cửu đứng cách hàng cọc chừng mười bước, tay ôm cuốn sổ khép, nhìn vôi trắng còn ướt chảy xuống thân gỗ thành từng vệt.

"Xin cho tới hết mùa gió chướng thôi," cậu nói. "Tới tháng mười ghe còn vào được. Sau tháng mười thì bến này cũng chẳng ai buôn bán gì, các ông cắm lúc nào cũng vậy."

Người cầm dây không ngẩng lên. Ông ta rút một quyển sổ trong bọc ra, giở tới trang đã gấp sẵn mép, rồi xoay lại cho cậu nhìn.

"Số thứ tự bốn mươi mốt tới bốn mươi tám. Bến Lê Quách. Hạn ngày mười hai." Ông ta gấp sổ lại. "Tôi đóng cọc theo cái này. Cậu muốn dời sang tháng mười thì cậu lên huyện sửa cái này."

Cậu nhìn dòng chữ trong sổ người ta lâu hơn mức cần thiết. Chữ đều, ngay ngắn, mực còn mới. Đúng cái lối chữ cậu vẫn viết thuê ở bến Hải Khang suốt hai năm nay, mỗi trang ba đồng, chép sổ hàng cho các chủ ghe.

Cậu không nói thêm câu nào. Cãi với người đọc sổ thì còn cãi được. Cãi với quyển sổ thì không.

Cả dãy bến đang tự tháo mình xuống. Nhà bà Tư dỡ mái trước, tranh bó thành từng cuộn quăng xuống sân, kèo hạ bằng dây thừng cho khỏi gãy mộng. Chiếc xe trâu đậu ngoài đường cái, trên đống đồ chất cao có hai đứa nhỏ ngồi vắt vẻo, đứa lớn ôm cái nồi đất, đứa bé ôm con mèo. Chúng nó không khóc. Trẻ con ở bến này đã dời nhà một lần rồi, hồi mười năm trước, và lần ấy vào sâu ba dặm.

Mặt trời lên tới ngọn tre thì hàng cọc đã cắm xong tới đầu kia. Từ xa nhìn lại, cái bến trông như một trang giấy vừa bị kẻ một đường mực dọc, và mọi thứ nằm bên phải đường mực đều đã thành chữ bỏ.

Về tới nhà, cậu trải chiếu ở gian ngang, đặt bàn tính xuống, và mở sổ ra tính lại từ đầu.

Ruộng gò Bắc bán năm cậu bảy tuổi. Ao lớn bán trước đó. Phần ruộng còn lại cầm cố năm Kỷ Dậu, chưa chuộc, mà tiền lãi thì mỗi vụ vẫn phải trả bằng thóc. Cái bến là thứ duy nhất còn sinh ra tiền mặt, mỗi tháng vài trăm đồng tiền lẻ từ chỗ cho ghe buộc dây và gửi hàng qua đêm. Từ ngày mười hai, chỗ ấy thành đất cấm.

Còn lại một khoản không đổi. Thuế đinh tính theo đầu người nam, và nhà này còn một đầu người nam.

Mẹ cậu bước vào lúc cậu gạt tới hàng đơn vị. Bà đứng ở cửa, tay còn cầm cái rổ, nhìn bàn tính chứ không nhìn mặt con.

"Bao nhiêu?"

"Mười một xâu, nếu bán hết đồ đồng trong nhà và cái phản này. Trả xong nợ lãi vụ này thì còn hai xâu ba." Cậu đẩy hai hạt xuống. "Hai xâu ba thì đủ ăn tới ra giêng. Ra giêng thì con vẫn là một đầu đinh, mẹ vẫn phải nộp, mà không còn cái gì để bán nữa."

"Con tính đến đó rồi à."

"Con tính đến đó từ hôm mười hai tháng trước."

Mẹ cậu đặt cái rổ xuống bậc cửa. Bà ngồi xuống mép phản, hai tay để trên đầu gối, và nhìn ra sân một lúc lâu bằng con mắt của người đang cộng nhẩm lại một lần nữa cho chắc.

"Đi chuyến nào."

"Có thuyền đi từ lạch Cồn Vẹt, chừng cuối tháng. Người ta lấy tiền chỗ trước, không hỏi giấy."

"Ừ."

Đó là tất cả những gì bà nói về chuyện ấy. Cậu đã chuẩn bị sẵn ba lý lẽ và một dãy con số để đưa ra nếu bị ngăn, và cả ba lý lẽ đều nằm nguyên trong bụng cậu, không dùng tới. Sau này, ở những nơi người ta cãi nhau cả buổi vì nửa đồng bạc, cậu vẫn còn nhớ cái tiếng "ừ" ấy và nhớ nó ngắn tới mức nào.

Chiều hôm đó mẹ cậu lôi tấm vải gai ra khỏi hòm.

Vải dệt ở nhà từ mấy năm trước, dày, thô, màu nâu sẫm chỗ nào cũng như chỗ nào. Bà ngồi trên cái ghế thấp ngoài hiên, chỗ còn ánh sáng, trải vải lên đùi, lấy một sợi lạt tre đo ngang lưng con rồi gấp đôi sợi lạt lại. Kim là kim vá lưới, to bản. Chỉ bà kéo qua cục sáp ong hai lần trước mỗi mũi, cho trơn và cho chịu nước.

Bà khâu hai lớp.

Lớp ngoài rộng, may kiểu túi đeo chéo, miệng gấp mép ba lần cho khỏi sờn, có một dải vải luồn qua làm quai. Lớp trong hẹp hơn, khâu áp vào mặt sau, chỉ hở một khe dọc vừa lọt hai ngón tay. Đường khâu đôi, mũi ngắn, đều tới mức nhìn từ xa tưởng là một vệt kẻ.

"Lớp ngoài để tiền," bà nói. "Ai lấy thì lấy chỗ ấy. Lớp trong để giấy."

Cậu ngồi ở bậc thềm đá, nơi mười năm trước cậu từng ngồi đãi đậu, nhìn hai bàn tay mẹ đưa kim. Ngoài sân, gió chiều thổi từ phía bến vào, mang theo mùi bùn phơi và mùi vôi mới. Ở đầu ngõ có tiếng xe trâu đi qua, bánh gỗ nghiến trên đường đất khô, chở đồ của nhà nào đó ra ngoài đường cái.

Bà khâu gần hết buổi chiều. Được chừng hai phần ba thì bà dừng lại, cắn đứt sợi chỉ, và hỏi câu duy nhất bà hỏi về nơi cậu sắp tới.

"Bên đó có gạo không con?"

"Có ạ." Cậu đáp ngay, vì cậu biết nếu ngập ngừng nửa nhịp thì bà sẽ biết cậu chưa từng hỏi ai câu đó. "Người ta bảo gạo bên đó rẻ hơn ở đây."

"Ừ. Vậy thì được."

Trời sập tối, bà thắp đèn dầu trẩu, kê ra sát mép hiên rồi khâu tiếp. Muỗi từ ngoài vườn vào từng đám. Cái túi gần xong nằm vắt trên đùi bà, mềm và nặng hơn vẻ ngoài, một mép còn để mở.

Cậu đem cuốn sổ bìa xanh ra đặt lên phản, cạnh nắm tiền lẻ đếm sẵn, để mai đóng gói cho gọn. Cửa mở ra sân trống, chỗ cái cổng tre mà năm cậu bảy tuổi có người đẩy vào trong.

Mẹ cậu cầm sợi lạt tre lên, ướm vào cái khe hẹp của lớp trong, rồi ngẩng lên.

"Lớp trong này nên rộng bao nhiêu hở con?"

Chú thích

[1] Lệnh "thiên giới" (dời ranh giới) do nhà Thanh ban hành từ năm 1661, buộc cư dân ven biển các tỉnh Sơn Đông, Giang Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Quảng Đông dời sâu vào đất liền, kèm lệnh cấm ra biển; ranh giới được đánh dấu bằng mốc, hào hoặc lũy, và có nhiều đợt siết lại trong khoảng 1661 đến 1683.

[2] Phủ Lôi Châu (Quảng Đông) nằm trong vùng bị áp lệnh dời dân; các huyện ven biển bị bỏ hoang nhiều năm, một bộ phận dân cư di cư xuống Đông Nam Á trong giai đoạn này.

[3] Thuế đinh thu theo suất đầu người nam trong độ tuổi chịu thuế, không phụ thuộc vào việc hộ đó còn ruộng đất hay không.

Hết Chương 16
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 17 →
← TrướcTiếp →