Tôi phải kể ba đêm ấy cho thật kỹ, vì mọi thứ tồi tệ về sau đều đi qua đây.
Đêm thứ nhất, tôi bác nó ngay.
Cho quỷ đói ăn là điều cấm thứ hai. Ông cụ nói ra một lần, gọn, không giải thích: đừng lập bàn thờ cho quỷ.
Tôi vẫn nhớ hồi mười tuổi tôi có hỏi lại. Tôi hỏi: thế cái mâm mình bày cho người ta thì là gì.
Ông bảo: cái mâm là để chỉ chỗ. Con đặt xuống rồi con gọi tên rồi con đưa người ta đi. Bày xong là hết.
Ông bảo: còn cái để mãi ở đấy, ngày nào cũng có cơm, thì không phải mâm.
Tôi hỏi thế nó là gì.
Ông bảo: là chỗ ở.
Đêm thứ nhất tôi dừng lại ở đấy và tôi đi ngủ, và tôi nhớ mình còn thấy nhẹ người vì đã bác được nó nhanh thế.
Đêm thứ hai, cái ý nghĩ ấy quay lại, và lần này nó không tới một mình.
Nó tới cùng với bốn mươi mấy nóc nhà.
Trong bốn mươi mấy nhà ấy có trẻ con, có người già, có người ốm. Có một thằng bé mười hai tuổi ăn năm bát cơm vẫn kêu đói.
Cái đói ấy do tôi làm ra. Không phải do dự án, không phải do An Cát, không phải do hai trăm năm nào cả.
Do một đêm rằm tháng ba và một người mang sáu mươi hai bát cơm ra ruộng.
Đêm thứ hai tôi ngồi tính: nếu tôi đặt một mâm cơm ở nền gạch ấy, mỗi tuần một lần, thì cái đàn có thôi lấy của bốn mươi mấy nhà kia không.
Tôi không biết. Không có ai để hỏi. Cái đạo này không có chỗ nào nói tới việc ấy, vì cái đạo này chưa bao giờ để lại một cái đàn đã thức ở giữa đồng.
Đêm thứ ba, tôi làm cái việc mà tôi vẫn làm mỗi khi tôi sắp làm một chuyện sai: tôi tìm chỗ trong luật cho phép mình.
Và tôi tìm được.
Tôi tìm được nó rất nhanh, nhanh tới mức bây giờ nghĩ lại tôi biết nó đã nằm sẵn ở đấy chờ tôi.
Ông cụ cấm lập bàn thờ. Ông giải thích cái cấm ấy bằng hai chữ chỗ ở.
Bàn thờ là chỗ ở vì nó cố định, có bát nhang, có hương khói, có người ngày nào cũng tới.
Còn cái tôi định làm thì không có bát nhang, không có hương, không có bàn.
Tôi định đặt một mâm cơm xuống một cái nền gạch giữa đồng, mỗi tuần một lần, rồi đi về.
Cái ấy không phải bàn thờ. Cái ấy là bố thí.
Tôi viết bốn chữ ấy ra giấy vào đêm thứ ba: đây là bố thí.
Từ chỗ tôi đứng bây giờ, tôi vẫn cho rằng cái đêm ấy là đêm quan trọng hơn cả cái đêm rằm tháng ba, và quan trọng hơn cả cái đêm tôi hiểu ra phép truyền lấy mạng ông cụ.
Vì đêm ấy tôi học được một kỹ năng.
Kỹ năng ấy là: tìm ra chỗ trong luật cho phép mình làm cái mà luật cấm.
Không phải phá luật. Phá luật thì dễ nhìn ra, và người phá luật thì biết mình đang phá.
Cái tôi học được đêm ấy tinh hơn nhiều. Nó là đọc kỹ điều cấm, tìm ra cái lý do đằng sau nó, rồi dựng một trường hợp mà cái lý do ấy không áp dụng được.
Bàn thờ cấm vì nó là chỗ ở. Cái của tôi không phải chỗ ở. Vậy nó không bị cấm.
Lập luận ấy đúng.
Nó đúng ở mọi bước, và tôi có thể trình bày nó trước bất cứ ai.
Chỉ có một chỗ tôi không nhìn: tôi không biết vì sao ông cụ cấm.
Ông không giải thích ba điều cấm ấy. Cái tôi gọi là lý do đằng sau nó thì thật ra là lý do tôi tự nghĩ ra, hai mươi sáu tuổi, sau ba đêm mất ngủ, trong tình trạng cần một câu trả lời.
Tôi lấy cái tôi tự nghĩ ra làm căn cứ, rồi tôi lách qua chính cái căn cứ ấy.
Có một chuyện tôi phải ghi vào đây cho hết, vì nếu bỏ nó ra thì ba đêm ấy thành ra chuyện của một người bị lương tâm đẩy đi.
Trong ba đêm ấy tôi có nghĩ tới chị Lệ.
Tôi nghĩ tới chuyện kể cho chị nghe, hỏi chị xem nên làm gì.
Chị Lệ không biết gì về nghề này. Chị không nhìn thấy, không đọc được chữ nho, không biết một điều cấm nào.
Mà chị là người duy nhất có mặt ở cái đêm rằm ấy, và chị là người đã ngồi ba chục mét ngoài bờ mương suốt bốn tiếng để tôi làm việc của tôi.
Tôi bỏ ý ấy vào đêm thứ ba, và tôi bỏ nó bằng một câu rất gọn: chị ấy không hiểu được đâu.
Bây giờ tôi biết câu ấy sai ở chỗ nào.
Chị Lệ không cần hiểu cơ chế. Chị chỉ cần nghe tôi nói ra một câu: em định mỗi tuần mang cơm ra ruộng cho chúng nó ăn.
Nghe câu ấy thì bất cứ ai cũng biết nó dẫn tới đâu.
Chính vì thế mà tôi không kể.
Sáng ngày thứ tư, tôi ra chợ mua gạo.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →