Cuối tháng, nó nhận lương.
Năm triệu sáu, tức là tám mươi phần trăm của bảy triệu, cộng chín trăm nghìn phụ cấp ba chuyến hiện trường. Tổng sáu triệu năm.
Chị Thu chuyển khoản, nhắn tin báo.
Nó ngồi ở cái bàn của mình, mở điện thoại ra xem, và nó ngồi khá lâu.
Sáu triệu năm.
Từ chỗ tôi đứng bây giờ, tôi thấy buồn cười vì cái phản ứng của mình hôm ấy.
Trong sổ tiết kiệm của tôi lúc đó còn hơn hai trăm ba mươi triệu. Sáu triệu năm là một khoản nhỏ, nhỏ hơn cái tôi tiêu cho một vụ khó.
Vậy mà tôi ngồi nhìn cái tin nhắn ấy mất mấy phút.
Vì đấy là đồng tiền đầu tiên trong đời tôi kiếm được.
Hai mươi hai năm rưỡi. Tôi sống bằng tiền của một ông cụ đã chết, tiêu vào một cái nghề không ai trả công, ở trong một căn nhà không phải của mình, mặc lại quần áo của một thằng bé đã chết.
Sáu triệu năm ấy là của tôi.
Tối hôm ấy tôi làm một việc, và việc ấy thì tôi vẫn còn thấy được cho tới bây giờ.
Tôi rút ra một triệu.
Tôi ra ngõ Phúc Tân, và tôi tìm mẹ tôi.
Bà đang ở nhà, đang ngồi phân loại chỗ ve chai gom được trong ngày ra hai đống: bìa các tông một đống, nhựa một đống.
Tôi bảo: bà ơi, hôm nay cháu mua nốt chỗ này.
Bà bảo chỗ này ít lắm, chưa được chục cân.
Tôi bảo cháu mua cả, bà cứ cân đi.
Bà cân. Được chín cân hai. Bà tính, rồi bà bảo hai mươi bảy nghìn.
Tôi đưa bà một triệu.
Bà không cầm.
Bà nhìn tờ tiền trong tay tôi, rồi bà nhìn tôi, và bà hỏi: cậu làm sao thế.
Tôi bảo hôm nay cháu vui, cháu mới có việc làm.
Bà bảo: có việc làm thì để tiền mà tiêu, đưa cho tôi làm gì.
Tôi bảo cháu biếu bà.
Và bà nói đúng cái câu bà đã nói với tôi mấy tháng trước, nói bằng đúng cái giọng ấy:
Không có ai biếu không ai cái gì cả.
Tôi đứng ở cái sân trọ ấy, tay cầm tờ một triệu, và tôi không biết làm gì với nó.
Cuối cùng tôi trả bà hai mươi bảy nghìn theo đúng giá, xách cái bao ve chai đi ra, và tôi bán nó ở bãi thu mua cuối ngõ được hai mươi ba nghìn.
Tôi lỗ bốn nghìn.
Đấy là toàn bộ cái tôi làm được cho mẹ tôi trong ngày tôi nhận đồng lương đầu tiên của đời mình.
Về nhà, tôi ngồi ở thư viện, và tôi nghĩ.
Tôi nghĩ về cái luật của bà: không có ai biếu không ai cái gì cả.
Cái luật ấy là luật của người nghèo. Nó tồn tại để giữ cho người ta khỏi mắc nợ, vì người nghèo mà mắc nợ thì hết đường.
Rồi tôi nghĩ tới ông cụ trên gò.
Ông cụ ấy cho tôi ăn suốt hai năm. Lạc luộc, khúc sắn, nửa cái bánh gio. Ông cho không, ông không đòi, ông không nhắc.
Và cái giá của mấy thứ ấy là cả đời tôi.
Đêm ấy, lần đầu tiên trong mười hai năm, tôi ngồi tính lại xem mình đã trả ông cụ bao nhiêu.
Một trăm bảy mươi mấy người được gửi đi. Ba trăm tám mươi triệu tiêu vào nghề. Sáu năm học chữ. Mười hai năm không có bạn.
Tôi tính ra một con số rất lớn, và tôi ngồi trước nó, và tôi nhận ra rằng tôi vẫn chưa thấy đủ.
Người ta trả một món nợ mà mình không tự nguyện vay thì trả bao nhiêu cũng không thấy hết.
Đấy là chỗ nguy hiểm nhất trong người tôi, và nó nằm ở đấy suốt từ năm tôi mười tuổi.
Vì một người luôn thấy mình còn nợ thì người ấy sẽ làm bất cứ việc gì, miễn là việc ấy trông giống trả nợ.
Còn chỗ tiền lương ấy thì tôi tiêu thế này.
Một triệu tám: mua một cái máy ảnh cũ, loại du lịch, để chụp bia ở hiện trường cho rõ hơn máy điện thoại.
Chín trăm nghìn: mua giấy dó. Tôi mua hẳn một tệp, mua ở làng, mua lần đầu tiên bằng tiền của mình.
Hai triệu: gửi vào sổ.
Còn lại thì tiêu vào ăn uống đi lại trong tháng.
Tôi không mua cái gì cho mình cả. Không quần áo, không giày, không một bữa ăn tử tế.
Cái máy ảnh và tệp giấy dó, cả hai đều là đồ nghề.
Đến bây giờ tôi vẫn nghĩ về chuyện ấy, và tôi vẫn không gọi được nó ra thành một chữ cho gọn.
Có người tiêu tiền vào con cái. Có người tiêu vào bố mẹ. Có người tiêu vào chính mình.
Còn tôi thì tiêu vào cái nghề, và tôi tiêu như thế suốt hai mươi bảy năm, kể cả những năm tôi đói.
Chị Lệ có hỏi tôi về chỗ lương ấy, hỏi vào một buổi trưa ở cổng chợ.
Chị hỏi: tháng đầu được bao nhiêu.
Tôi bảo sáu triệu rưỡi.
Chị hỏi: tiêu gì rồi.
Tôi kể: máy ảnh, giấy, gửi sổ hai triệu.
Chị Lệ đặt bút xuống, và chị nhìn tôi cái kiểu chị vẫn nhìn khi sắp mắng.
Chị bảo: cậu mua cho cậu cái gì chưa.
Tôi bảo chưa.
Chị bảo: thế thì tháng sau nhớ mua. Mua cái áo cũng được. Người đi làm mà không mua gì cho mình thì làm mãi cũng chán.
Tôi bảo vâng.
Tháng sau tôi không mua. Tháng sau nữa cũng không.
Trong ba năm làm ở đấy, tôi mua cho mình đúng một thứ: một đôi giày bảo hộ mũi sắt, để đi hiện trường cho khỏi giẫm phải mảnh sành.
Đôi giày ấy tôi đi bốn năm, đi tới lúc bong đế, và tôi vẫn còn đi nó vào cái năm tôi không còn gì nữa.
Người ta hay khen cái ấy là tận tuỵ.
Bây giờ tôi biết nó có một cái tên khác, và cái tên ấy thì không đẹp: người không có ai để tiêu tiền vào thì tiêu vào cái việc mình làm, và đến một lúc nào đó thì cái việc ấy trở thành người duy nhất trong đời họ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →