Trọng chở Ngần về tới đầu hẻm nhà cô lúc năm giờ chiều, và trong bốn chục phút đường về anh nói đúng ba câu.
Câu thứ nhất là hỏi cô có muốn ghé ăn gì không.
Câu thứ hai là nói chiều mai anh có chuyến đi Ba Tri, đi từ sáu giờ.
Câu thứ ba là chào.
Cô xuống xe, xách thùng đồ nghề, đi vô hẻm. Anh ngồi trong xe nhìn theo tới lúc cô khuất, rồi anh nổ máy.
Anh chạy được hai cây thì tấp vào lề lần nữa.
Anh rút sổ ra.
Trong bốn năm ghi sổ, anh ghi hết mọi thứ. Chuyến xe, số ki-lô-mét, giá dầu, giờ nhận thi hài, tên người mất, tên người nhà, số tiền, cái vòng, con số của Khoa, lời khai của người ta, câu nói lạ, cái nhìn khó hiểu của thằng nhỏ ở quán cơm.
Anh mở tới trang trắng, cầm bút, và anh ngồi đó chừng năm phút.
Rồi anh gấp sổ lại, bỏ vô túi áo ngực, và nổ máy.
Anh không ghi.
Đó là lần đầu tiên trong bốn năm anh nghe một chuyện quan trọng mà không ghi lại, và trên suốt quãng đường còn lại anh tự hỏi vì sao.
Anh nghĩ ra được ba lý do, và cả ba đều không đúng hẳn.
Lý do thứ nhất: ghi ra giấy thì có nguy cơ người khác đọc được. Cái này không đúng, vì cuốn sổ nằm trong túi áo anh mỗi ngày và bốn năm nay chưa ai mở nó ngoài anh.
Lý do thứ hai: chuyện đó không liên quan tới vụ án. Cái này càng không đúng. Nó liên quan tới cái ông đang đứng trong góc cabin nhiều hơn bất cứ tờ giấy nào anh đã in ra.
Anh cũng nghĩ tới một lý do thứ tư mà anh gạt đi ngay: ghi ra thì mai mốt có ngày anh đọc lại, và đọc lại thì anh sẽ đối chiếu con số bốn tháng của cô với con số một năm của người đàn ông trong cabin.
Lý do thứ ba, và cái này thì gần đúng nhất: anh không ghi vì nếu ghi thì nó thành một dòng, và một dòng thì đọc lại được, và đọc lại được thì có ngày anh sẽ đem nó ra đối chiếu với cái gì đó.
Bốn tháng. Một cái vòng. Một người bước ra mà không ai kéo.
Anh không muốn cái đó nằm chung một cuốn sổ với giá dầu.
Anh biết mình đang tự nói vòng vo, và anh biết cái lý do thật thì đơn giản hơn cả ba cái kia.
Anh không ghi vì cô kể chuyện đó cho anh, không kể cho cuốn sổ.
Về tới bãi xe, anh còn ngồi trong xe thêm mười phút nữa mới xuống.
Tối đó anh chạy chuyến đêm về huyện bên, chở một ca cho nhà tang lễ, và về tới bãi xe lúc gần một giờ sáng.
Anh rửa cáng, xịt khử trùng, phơi bạt, rửa tay ba lần.
Rồi anh ngồi trong xe, mở sổ, và lần này anh ghi.
Anh ghi ba dòng, và cả ba dòng đều không nhắc tới cái tên nào.
Anh làm vậy có chủ ý. Bốn năm nay anh ghi tên hết mọi người, kể cả người chỉ gặp một lần, kể cả tên chó nhà người ta. Lần này anh viết như viết một cái ghi chú nghề nghiệp cho một người thợ nào đó chưa quen.
Người trong vòng lâu thì không già đi, mà cái mặt thì đổi. Không tin số tuổi ước lượng.
Ra khỏi vòng thì không cần ai kéo. Cần muốn ra.
Người ở trong đó lâu thì bên ngoài có người quên hẳn. Không phải quên tạm. Quên hẳn.
Anh đọc lại ba dòng đó, rồi anh viết thêm dòng thứ tư, và dòng này thì anh viết chậm hơn ba dòng kia.
Nếu kéo ổng ra mà ổng không muốn ra thì kéo được không.
Anh nhìn cái dòng đó một lúc lâu dưới ánh đèn trong xe.
Bốn năm nay anh đứng ngoài cabin cầm sợi dây, và bốn năm nay cái việc của anh chỉ có một nội dung: giật đúng lúc. Anh chưa bao giờ phải nghĩ tới chuyện người bên kia sợi dây có muốn ra hay không, vì người bên kia sợi dây lúc nào cũng là Ngần, và Ngần thì lần nào cũng đi theo dây.
Anh gấp sổ, tắt đèn trong xe, và ngồi trong bóng tối chừng một phút.
Anh ngủ trong xe đêm đó, ở bãi, như nhiều đêm khác.
Sáng hôm sau, sáu giờ, anh đi Ba Tri. Chuyến bảy mươi chín: một bà cụ tám mươi tám tuổi mất ở nhà con gái, chở về quê chồng. Bảy mươi hai cây, bốn triệu tám, nhà trả đủ, có người ra đón, có đội đòn chờ sẵn, có mâm cúng bày rồi.
Đủ bộ.
Trên đường về, gần trưa, anh ghé nhà chị Thoa.
Bà cụ mẹ chị đang phơi khăn ngoài sân. Chị Thoa ngồi trên phản, gấp.
Anh ngồi xuống cái ghế nhựa, cách phản một mét, và anh đợi hết bốn cái khăn.
Chị dừng tay, quay lại.
"Trọng hả."
"Dạ."
"Bữa nay lên sớm."
"Con đi Ba Tri về, ghé ngang."
Chị Thoa vén tóc ra sau tai.
"Vụ Bàu Cạn tới đâu rồi."
Trọng ngồi im một lúc.
"Chị Thoa," anh nói. "Con hỏi chị một câu."
"Ừ."
"Hồi chị còn vô vòng. Có bao giờ chị không muốn ra không."
Bà cụ ngoài sân phơi xong chồng khăn, đi vô, rót nước, đặt hai ly lên phản rồi đi ra sau bếp.
Chị Thoa nhìn anh.
Rồi chị cúi xuống, lấy cái khăn tiếp theo trong rổ, trải ra đùi, vuốt phẳng bằng cạnh bàn tay.
"Có," chị nói.
Rồi chị gấp cái khăn đó xong, đặt lên chồng bên trái, và chị nói tiếp mà không nhìn anh.
"Mà con đừng có nói với con Ngần."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 74 →