Cửa cabin mở ra một khoảng tối sâu chừng bốn mét, và trong bốn năm làm nghề, Ngần chưa lần nào quay lưng lại với một cái vòng để nhìn ra ngoài.
Lần này cô nhìn.
"Ba phút," Trọng nói, tay quấn dây. "Chị vô nhịp hai."
"Ừ."
"Chị coi cái gì."
"Coi ngoài cửa."
Anh dừng tay.
"Chị đứng trong đó mà quay lưng ra hả."
"Ừ."
"Chị đứng lệch chỗ là mất mốc."
"Tui không bước. Tui chỉ xoay đầu."
Trọng buộc nốt vòng thứ hai, kiểm bằng hai ngón xỏ vào giữa dây và da, rồi lùi ra.
Đây là cái mà bốn năm nay cô không làm, và không làm vì một lý do rất thực dụng: ba mươi tám giây thì ngắn, mà cái vòng thì nằm ở phía trước mặt. Quay đầu đi chỗ khác nghĩa là bỏ mất một lượt nhìn vào chính cái thứ mình tới để nhìn.
Bây giờ cô có bốn lượt rồi. Cô đã đếm bàn tay, đã nghe cái nghiêng đầu, đã coi đôi dép và vết xước trên mu bàn chân, đã thấy mặt bà một lần.
Cái còn thiếu không nằm trong cabin. Nó nằm ở chỗ bà cụ đang gọi vào.
Một giờ ba mươi tám sáng. Vòng chạy.
Mùi vôi bột. Cái nóng. Tiếng máy trộn dưới xa. Sau lưng cô, cách một bước chân, bà cụ thở nông bốn hơi rồi đưa tay lên bảng nút.
Ngần xoay đầu về phía cửa.
Ngoài cửa cabin là một khoảng sàn bê tông trần, và trong quầng sáng vàng lọt tới từ đâu đó, cô thấy được chừng bốn mét trước mặt.
Có giàn giáo.
Ba khung giáo sắt dựng sát vách bên phải, chồng hai tầng, trên có ván lót. Dưới chân giáo là mấy bao xi măng xếp chồng, bao trên cùng đã rạch miệng. Một cái xe rùa dựng nghiêng. Một cây xà beng dựa vào tường.
Và xa hơn nữa, chỗ hành lang gấp khúc, có ánh sáng.
Không phải đèn điện. Ánh vàng, không đều, đứng yên rồi lay nhẹ, thứ ánh sáng của một cây đèn dầu để trên nền nhà. Cái quầng đó hắt lên vách một mảng hình vòng cung, và ở mép mảng sáng có bóng của một vật dựng đứng, mảnh, có lẽ là chân bàn.
Tiếng cải lương tới từ hướng đó.
Rõ hơn lần trước nhiều. Ngần nghe ra được một câu vọng cổ, giọng nữ, xuống hò ở cuối, và ngay sau đó là tiếng vỗ tay lẹt đẹt trong máy, cái tiếng vỗ tay của một buổi thu thanh cũ.
Sau lưng cô, bà cụ bấm nhịp thứ hai, rồi nghiêng đầu.
Ngần nghiêng theo, và lần này, đứng quay mặt về hướng ánh sáng, cô nghe được thêm một thứ mà lần trước không nghe ra.
Có tiếng người.
Không phải trong máy. Ở đâu đó phía sau cái quầng đèn, có người nói chuyện với nhau. Hai hoặc ba người. Không rõ chữ, chỉ rõ nhịp: một người nói dài, một người đáp ngắn, rồi có ai đó cười.
Trong khoảng tối phía trên tầng sáu của một toà nhà đang xây dở, lúc gần nửa đêm, có mấy người đang mở cải lương và nói chuyện với nhau.
Bà cụ bấm nhịp thứ ba.
"Mở giùm cái cửa. Út ơi."
Ngần quay đầu lại nhìn bà.
Bà cụ đứng đó, xách hai hộp cơm, vai áo lệch, gọi vào một khoảng tối có đèn, có cải lương, có tiếng người cười, và không ai ra mở.
Bàn tay đưa lên lần thứ tư, tới ngang cằm, rồi dừng.
Sợi dây giật ở cổ tay.
Ra tới sảnh, Ngần ngồi xuống bậc tam cấp và kể liền, không đợi ai hỏi, vì lần này cái cô mang về nặng hơn mấy lần trước.
"Ngoài cửa có giàn giáo, có bao xi măng, có xe rùa. Đang thi công."
Trọng ghi.
"Và có người ở," cô nói.
Ba người kia im.
"Có đèn dầu. Có radio mở cải lương. Có ít nhất hai ba người nói chuyện với nhau, có người cười." Cô nói chậm cho Trọng ghi kịp. "Trên đó, cái đêm đó, có mấy người đang ngồi với nhau."
Lệ ngẩng lên.
"Vậy là ông Bảy nói đúng. Công nhân ở lại trong công trình."
"Ừ."
"Vậy bả xách cơm lên cho mấy người đó."
"Hai hộp thôi," Trọng nói. "Mấy người ngồi với nhau mà xách có hai hộp."
Khoa ngồi ở bậc trên cùng, hai tay ôm gối.
"Hay là bả bán cơm. Bả đi giao."
"Người giao cơm thì gõ cửa kêu cơm đây," Ngần nói. "Bả kêu Út ơi mở giùm cái cửa."
Cô ngồi im một lúc, hai tay đặt trên đầu gối.
"Người ta gọi tên kiểu đó là gọi người nhà."
"Sao chị chắc," Khoa hỏi.
"Vì bả không kêu ai khác." Ngần ngẩng lên. "Ở trong đó có ba người đang nói chuyện. Bả không kêu ba người. Bả kêu đúng một cái tên, và bả kêu đi kêu lại."
"Vậy mấy người kia là ai."
"Không biết." Cô nói. "Mà mấy người kia nghe được. Ba người ngồi cách cái cửa chừng mười lăm mét, có người cười, thì tiếng gõ cửa với tiếng kêu ngoài hành lang họ phải nghe được.
Không ai nói gì. Ngoài sân, cái đèn cao áp duy nhất còn sáng kêu è è, và một con thiêu thân đập vào chao đèn rồi rơi xuống nền xi măng.
Trọng gấp sổ lại.
"Vậy trên đó không phải chỗ ngủ của mấy ông thợ," anh nói. "Trên đó là nhà của ai đó."
Lệ ghi câu đó vào vở, và ghi xong thì cô nhìn nó một lúc.
Trong ba năm đi theo đội, cô đã học được rằng mọi vụ đều tới một chỗ như vầy: cái đội thôi hỏi chuyện gì đã xảy ra, và bắt đầu hỏi ai sống ở đây.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 42 →