Bảng nút trong cabin thang máy block C2 có sáu nút số, một nút chuông, một nút mở cửa, một nút đóng cửa. Chín nút, xếp hai hàng, hàng bên phải bốn nút, hàng bên trái năm.
Mười một giờ mười lăm đêm, Ngần đứng trước bảng nút đó và đếm lại lần nữa, vì đếm là việc đầu tiên cô làm khi bước vào một chỗ mới.
Cô vừa trả chìa khoá xong. Ông Vạn ở tầng hai, căn 205, mở cửa với vẻ mặt của người ngủ chưa sâu, nhận chìa, ký vào sổ bìa giả da, hẹn mai gặp. Ông ta không hỏi gì thêm về cái thang máy, và cái sự không hỏi ấy nói nhiều hơn nếu ông ta hỏi.
Cô đi bộ xuống tầng một bằng cầu thang bộ, để xem cầu thang bộ hết bao lâu. Một phút bốn mươi giây từ tầng hai, tính cả đoạn dừng lại nhặt một vỏ hộp sữa ai đó bỏ trên chiếu nghỉ.
Rồi cô quay lại thang máy, bấm nút gọi, và bước vào.
Trong cabin có mùi nước lau sàn loại rẻ tiền, mùi bạc hà công nghiệp trộn với mùi sắt. Vách cabin ốp inox, đã xước nhiều, có mấy chỗ dán băng keo đen che vết móp. Sàn lát nhựa giả gỗ, mối nối bong ở góc trong bên trái. Trần có một tấm ốp thủng ốc, hở ra khoảng tối bằng bàn tay. Đèn tuýp còn tốt.
Ngần bấm số 1.
Cửa đóng. Cabin đứng yên hai giây rồi đi. Cô nhìn đèn báo tầng phía trên cửa, loại bảy đoạn màu đỏ, thứ đèn mà tất cả các thang máy rẻ tiền trong nước đều dùng.
Đèn hiện số 3.
Cô đang ở tầng một. Cabin đang đi lên.
Ngần không bấm gì thêm. Cô đứng nguyên chỗ mình đứng, giữa cabin, hơi lệch về bên trái, và cô để hai tay xuôi.
Đèn hiện 4. Rồi 5. Rồi 6.
Cabin không dừng ở 6.
Nó đi tiếp thêm một quãng nữa, quãng ấy ngắn hơn một tầng, chừng hai mét, và trong quãng đó đèn báo tầng không hiện gì cả. Bảy đoạn đều tối. Rồi cabin dừng, nhẹ, không xóc.
Cửa mở.
Bên ngoài không có sảnh, không có hành lang lát gạch, không có đèn. Có một khoảng tối, và trong khoảng tối đó không khí lạnh hơn trong cabin chừng vài độ, khô, và có mùi vôi. Không phải mùi vôi mới quét. Mùi vôi bột, thứ mùi của một bao xi măng bị mưa hắt vào rồi để lâu, ngai ngái, hơi hắc, đọng ở cuống họng.
Ngần không bước ra. Cô đứng trong cabin, một tay giữ cửa, và nhìn.
Mắt cô quen tối nhanh hơn người thường, đó là chuyện nghề, dọn nhà ban đêm nhiều thì quen. Sau khoảng bốn giây cô nhận ra mặt sàn bên ngoài không lát gạch mà là bê tông trần, và có một đường viền vữa chạy dọc chân tường, loại viền người ta để lại khi xây xong mà không trát hoàn thiện.
Cô đếm tới mười. Không có gì trong bóng tối di chuyển. Không có tiếng gì.
Cửa cabin bắt đầu đóng. Cô bỏ tay ra và để nó đóng.
Và khi cửa khép được một nửa, cô thấy trong cabin có thêm một người.
Bà cụ đứng quay lưng lại phía cô, cách chừng một bước chân, sát bảng nút. Người thấp, lưng còng, tóc bạc búi thấp bằng dây thun, áo bà ba màu tối, quần đen, chân đi dép nhựa quai hậu. Một bên vai áo bị kéo lệch xuống, kiểu áo của người vừa vấp hay vừa được ai đó đỡ dậy.
Ngần đứng im.
Bà cụ đưa tay phải lên bảng nút. Không bấm số 6. Ngón trỏ bà đặt vào khoảng inox trống phía trên nút số 6, chỗ không có nút nào, chỗ chỉ có mặt kim loại trơn.
Bà bấm.
Một.
Ngón tay rút về ngang ngực, rồi lại đưa lên.
Hai.
Rút về. Đưa lên.
Ba.
Rút về. Bàn tay đưa lên lần thứ tư, được nửa đường, tới ngang cằm bà thì dừng lại. Nó đứng đó, run rất nhẹ, giống bàn tay người già cầm một vật nặng. Rồi cả người bà chùng xuống một nhịp, không phải ngã, chỉ chùng, như người bị rút mất một hơi thở.
Rồi bà cụ đứng thẳng lại, ở đúng chỗ ban đầu, vai áo lại lệch đúng như cũ.
Và bà đưa tay lên bấm.
Một.
Ngần rút điện thoại trong túi quần ra, mở đồng hồ bấm giây, ấn nút. Cô làm việc đó bằng tay trái, mắt không rời khỏi bàn tay bà cụ. Cô đếm cùng bà tới nhịp bốn, tới lúc bàn tay dừng ngang cằm và người chùng xuống, rồi cô ấn nút lần nữa.
Bốn mươi mốt giây cho một vòng.
Cô để đồng hồ chạy tiếp và đếm vòng thứ hai. Bốn mươi mốt. Vòng thứ ba, bốn mươi hai. Sai số một giây là sai số của tay cô, không phải của bà.
Suốt ba vòng đó, bà cụ không quay lại. Không phải bà cố tình không quay lại. Trong cái vòng ấy không có chỗ nào cho việc quay lại, cũng như trong một bản nhạc không có chỗ cho một nốt không được viết ra. Người ta không nhìn thấy Ngần. Người ta không ở đây để nhìn thấy ai.
Cabin bắt đầu chạy xuống.
Đèn báo tầng sáng lại: 6, rồi 5, rồi 4. Bà cụ vẫn đứng đó, vẫn bấm, và tới nhịp thứ hai của vòng thứ tư thì bà không còn nữa. Không mờ đi, không tan ra. Ở nhịp trước thì có, ở nhịp sau thì không.
Cửa mở ở tầng một. Ngần bước ra sảnh, đi thẳng ra sân, tới chỗ có sóng điện thoại tốt, và đứng lại dưới cái đèn cao áp duy nhất còn sáng.
Trong sảnh sau lưng cô, cửa thang máy khép lại. Không ai bấm gọi. Cabin tự chạy, và đèn báo tầng phía trên cửa đếm lên 2, 3, 4, 5, 6, rồi tối hẳn.
Cô gọi Trọng. Anh bắt máy ở hồi chuông thứ hai, giọng tỉnh, chắc chưa ngủ.
"Alô."
"Anh còn ở gần đây không?"
"Cách hai chục cây. Sao?"
Ngần nhìn lên mặt tường block C2. Sáu hàng cửa sổ, hàng trên cùng tối hết vì đã khuya. Phía trên hàng thứ sáu là một dải bê tông trơn cao chừng hai mét rưỡi, không cửa sổ, không lỗ thông gió, sơn cùng màu với phần còn lại của toà nhà, và cô đã đi qua cái sân này bốn ngày liền mà chưa lần nào nhìn lên tới chỗ đó.
"Anh quay lại đi," cô nói. "Chú Vạn nói đúng. Nó dừng ở tầng trên cùng."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →