Cái dấu nặng nằm dưới lớp bút xoá, lệch về bên phải, và Trọng nhìn thấy nó lần thứ hai vào lúc mười giờ đêm khi anh nghiêng tờ giấy đúng bốn mươi lăm độ dưới bóng đèn bàn.
Ba buổi ông Vạn cho anh đã hết từ hôm kia. Anh xin thêm hai, đổi bằng một chuyến chở nữa. Ông Vạn không nói gì, chỉ đẩy chồng sổ qua bàn.
Bây giờ anh không đọc nữa. Anh chỉ làm một việc: cái tên ở dòng bảy mươi bốn.
Anh đã thử bốn cách.
Cách thứ nhất, chụp bằng điện thoại rồi tăng độ tương phản hết cỡ. Ra một mảng trắng.
Cách thứ hai, soi đèn pin từ phía sau tờ giấy. Bút xoá dày quá, không xuyên.
Cách thứ ba, soi nghiêng. Cách này ăn thua. Ánh sáng đi là là mặt giấy thì mấy chỗ giấy bị đầu bút bi ấn lõm xuống sẽ đổ bóng, và bóng thì bút xoá không phủ được.
Anh thấy được ba thứ. Một nét sổ dọc. Một nét cong ở dưới, hở về bên phải. Và một chấm, nằm dưới đường kẻ, lệch phải.
Dấu nặng.
Cách thứ tư anh nghĩ ra lúc chín giờ tối: lấy một tờ giấy trắng đặt lên, dùng cạnh ruột bút chì chà nhẹ, như cách con nít in hình đồng xu.
Anh làm thử ở góc tờ giấy, chỗ trống, để coi có hằn không. Có hằn. Chữ hiện ra mờ mờ.
Rồi anh dừng lại.
Nếu anh chà bút chì lên dòng bảy mươi bốn của một cuốn sổ gốc mà tuần sau ông Vạn phải nộp cho tổ dân phố, thì hai chuyện có thể xảy ra. Một là ra được cái tên. Hai là tờ giấy đó có một vệt chì đen sì trên đúng chỗ đáng ngờ nhất, và ông Vạn thì mất chức, và đội thì mất luôn đường vào.
Anh đặt cây bút chì xuống.
Rồi anh chụp thêm mười một kiểu, mỗi kiểu một góc nghiêng khác, và ghi vào sổ: dòng 74, dưới bút xoá còn hằn 1 nét sổ, 1 nét cong hở phải, 1 dấu nặng. Không chà chì. Sổ gốc phải nộp ngày 25.
Anh gấp sổ, và ngồi nhìn cái tên ghi đè: Trần Thị Mai.
Anh thử gọi cái số ở dòng đó thêm một lần nữa, mười giờ kém, từ điện thoại của mình chớ không phải của Lệ.
Đổ chuông. Bảy hồi. Rồi ngắt giữa chừng, và ở đầu bên kia có tiếng ống nghe được nhấc lên, rồi đặt xuống ngay, nhẹ.
Bốn giây. Anh không kịp nói một chữ nào.
Cái tên đó thì bình thường tới mức không ai để ý. Cả nước có mấy chục ngàn người tên Trần Thị Mai. Đó chính là chỗ làm anh khó chịu.
Người ta bôi một cái tên đi rồi ghi đè lên bằng cái tên vô hại nhất có thể nghĩ ra. Nếu bôi rồi bỏ trống thì có người hỏi. Bôi rồi ghi đè thì không ai hỏi, vì một danh sách đầy đủ trông giống một danh sách đúng.
Trước khi gọi, anh làm nốt một việc nhỏ mà anh để dành từ mấy hôm: anh dò cả cuốn tập coi còn dòng nào bị bôi bút xoá nữa không.
Có bảy chỗ. Sáu chỗ là xoá số điện thoại rồi ghi số mới đè lên, chuyện thường, người ta đổi số. Một chỗ là xoá tên.
Đúng một chỗ. Dòng bảy mươi bốn.
Mười một giờ đêm, anh gọi Ngần.
"Chị đang ở đâu."
"Ngoài Bàu Cạn. Chờ tới giờ."
"Đêm nay chị đừng vô."
"Tui không vô. Tui chỉ đứng coi."
Anh kể cho cô nghe cái dấu nặng.
Đầu dây bên kia im một lúc.
"Chữ có dấu nặng," cô nói.
"Ừ."
"Bậu."
Trọng để cây bút xuống.
"Chị nói lại coi."
"Bậu." Giọng cô không lên không xuống. "Ở dưới quê ngoại tui hồi xưa có mấy bà tên Bậu. Với lại Mậu, Sậu, Ngọc, Vượng, Lượng, Diệu, Tịnh, Nhạn." Cô ngừng. "Có cả trăm chữ có dấu nặng, anh Trọng."
"Ừ."
"Tui nói ra chữ đầu tiên tui nghĩ tới thôi. Anh đừng ghi."
"Tui ghi rồi."
"Vậy anh ghi thêm chữ nữa cho đủ hai chục chữ. Đừng để một mình nó nằm đó."
Trọng bật cười một tiếng ngắn, và anh làm đúng như vậy: anh ghi thêm mười chín chữ có dấu nặng nữa vào cuốn sổ, xếp thành ba hàng, và cái chữ đầu tiên thì nằm lẫn vào giữa chớ không nằm đầu.
Đây là một luật của đội mà không ai viết ra: cái gì mới đoán thì phải để nó nằm chung với mười chín cái đoán khác, nếu không thì ba ngày sau cả đội sẽ đi theo nó mà tưởng là đi theo bằng chứng.
Họ đã mất bốn ngày với ông Tư Hưởng vì không làm vậy.
"Còn cái này nữa," Trọng nói. "Tui coi lại danh sách hộ diện dời. Một trăm mười tám hộ, tui cộng số nhân khẩu."
"Bao nhiêu."
"Bốn trăm sáu mươi hai người."
"Rồi sao."
"Block C2 có bốn trăm hai chục căn, mà hộ diện dời chỉ được cấp một trăm mười tám căn. Còn ba trăm lẻ hai căn kia là bán thương mại." Anh lật trang. "Tui đối chiếu với cái biên bản bàn giao tổng. Trong biên bản ghi số hộ diện dời được cấp căn là một trăm mười tám."
"Vậy khớp mà."
"Khớp. Mà cái biên bản đó lập ngày mười bốn tháng sáu năm bàn giao." Trọng nói chậm lại. "Cái danh sách chép tay trong sổ điện thoại thì không đề ngày. Nếu bản gốc của nó có một trăm mười chín, thì bản gốc đó lập trước ngày mười bốn tháng sáu."
Ngoài kia, ở đầu dây bên Ngần, có tiếng cửa cabin mở.
"Trước ngày bàn giao," cô nói.
"Trước ngày bàn giao."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 34 →