`` PHIẾU VÒNG — quán tạp hoá xóm Rạch, cái bàn tính tiền Động tác: lau mặt bàn, trái sang phải, 3 đường chồng nhau, rồi nhìn xuống Chu kỳ: 22 giây Khung giờ: 23g00 – 03g00 Hạn (Khoa): 840 Lời (Lệ): "…tui trả rồi…" (nghe được đêm thứ hai) Ghi chú: khăn sờn, màu xanh nhạt. Bà ngồi ghế đẩu bên trái bàn. Nhà đã dọn cái ghế đẩu đó đi từ hồi đám, bả vẫn ngồi. ``
Ngần viết cái phiếu này ngồi trên chiếc ghế nhựa kê ngoài hiên quán, sáu giờ sáng, trong lúc chú Chín kéo cửa cuốn lên và bắt đầu bày hàng.
Cái ghế đẩu là chi tiết cô ghi cuối cùng và là chi tiết cô thích nhất, theo cái nghĩa mà chỉ người làm nghề này mới thấy là thích.
Nhà đã cất cái ghế đẩu đó lên gác từ hồi đám tang, bốn tháng rồi. Bà cụ vẫn ngồi. Chỗ bà ngồi bây giờ là khoảng không cách sàn bốn mươi lăm phân, và mông bà đặt xuống đúng cái mặt ghế không còn ở đó nữa.
Cái vòng không quan tâm nhà cửa thay đổi ra sao. Nó giữ nguyên căn phòng của cái đêm nó thành hình.
"Cô uống cà phê không," chú Chín hỏi.
"Dạ chú cho con xin ly đá."
Chú pha, đưa ra, rồi ngồi xuống cái ghế nhựa còn lại.
Quán mở hàng lúc sáu giờ. Trong nửa tiếng Ngần ngồi đó, có bảy người ghé: hai đứa nhỏ mua bánh, một bà mua nước mắm, một ông mua thuốc lá lẻ, hai chị công nhân mua mì gói, và một người mua chịu.
Người mua chịu là một cậu chừng hai mươi, mua hai gói mì với một chai dầu ăn, nói để chiều em gửi. Chú Chín ừ, không ghi gì hết.
Cái bàn có sổ nợ, mà cuốn sổ thì nằm trong tủ. Vợ chú bế đứa nhỏ đi chợ. Xóm Rạch buổi sáng có tiếng xe máy, tiếng chổi, tiếng radio nhà ai mở tin tức.
"Cô làm nghề này lâu chưa."
"Dạ bốn năm."
"Trước cô làm gì."
"Con dọn nhà. Bây giờ cũng dọn."
Chú Chín gật, rồi im. Người ta hay im ở chỗ đó, vì hỏi tiếp thì phải hỏi câu khó.
Ngần uống hết nửa ly rồi mới hỏi câu của mình.
"Chú Chín. Má chú hồi còn sống, bả ngồi cái bàn đó làm gì."
"Tính tiền. Ghi sổ nợ."
"Sổ nợ còn không chú."
"Còn." Chú đứng dậy, vào trong, lấy ra một cuốn sổ bìa carton dày, mép quăn, cột thun. "Má tui ghi từ hồi mở quán tới hồi bả nằm luôn."
Ngần cầm cuốn sổ, không mở.
"Con coi được không."
"Coi đi."
Cô lật. Chữ bà cụ to, nghiêng, viết bằng bút bi xanh, mỗi trang một cái tên. Nhà Tư Đực, nhà Bảy Lành, thằng Hoà xe ôm. Mỗi dòng một ngày, một món, một số tiền. Mì ba gói. Nước tương. Bột giặt. Có dòng gạch ngang, có dòng khoanh tròn, có dòng ghi chữ "rồi".
"Chữ rồi này là trả rồi hả chú."
"Ừ."
Cô lật tới cuối. Ba trang cuối cùng chữ đã run, nét nhạt, và trang cuối chỉ có bốn dòng.
"Má chú mất tháng giêng. Còn ai nợ không."
Chú Chín cười khẽ, kiểu cười của người nói chuyện tiền trong lúc đang nói chuyện khác.
"Còn chớ cô. Xóm này ai chả nợ vài chục. Mà tui bỏ hết rồi, má mất thì thôi."
"Chú bỏ hết."
"Ừ. Tui nói với mấy nhà là thôi khỏi trả."
Ngần gấp cuốn sổ lại, để lên đùi, và cô ngồi im một lúc lâu đủ để chú Chín thấy hơi khó chịu.
"Sao vậy cô."
"Dạ không có gì."
Cô nói không có gì, và trong đầu cô thì có một thứ vừa nhích một chút, chưa thành hình, cái cảm giác mà bốn năm nay cô học được cách không đuổi theo vội.
Người ta nợ bà cụ. Bà cụ ghi sổ. Bà cụ mất. Con trai xoá hết nợ.
Và bà cụ ngồi lau cái mặt bàn nơi bà ghi cuốn sổ đó, đêm này qua đêm khác, và nói tui trả rồi.
Tui trả rồi.
Không phải nó trả rồi. Không phải trả tui đi.
Tui.
Ngần đưa cuốn sổ lại cho chú Chín.
"Chú giữ kỹ giùm con cuốn này. Đừng cho ai mượn."
"Cô cần thì cứ cầm."
"Dạ thôi, chú giữ." Cô đứng dậy. "Đồ của người mất mà đem ra khỏi nhà thì phiền lắm chú."
Đó là câu cô nói với người nhà từ bốn năm nay, và nó không đúng theo nghĩa nghề nghiệp. Không có luật nào cấm. Cô nói vậy vì một lý do khác: giấy tờ ra khỏi nhà thì mất, mà cuốn sổ này thì cô có cảm giác sẽ cần tới, và nếu nó nằm trong tay cô mà mất thì cô không có gì để nói với người ta.
Trên đường ra, cô đi ngang cái bàn lần nữa và dừng lại.
Sáu giờ sáng thì không có gì ở đó. Vòng chỉ chạy từ mười một giờ đêm. Cái bàn bây giờ là một cái bàn: tấm nhựa bông đã ngả vàng ở giữa, mòn thành một mảng nhạt hình bầu dục, cỡ hai bàn tay.
Cô đưa tay sờ lên chỗ mòn đó.
Nhựa mòn tới mức láng. Bốn chục năm một người ngồi đúng một chỗ, lau đúng một chỗ, thì tấm nhựa mòn ra như vậy.
Cái vòng và cái mảng mòn nằm chồng khít lên nhau. Đó là chỗ mà người ngoài nghề hay hỏi rằng làm sao biết cái nào có thật, và cô chưa bao giờ trả lời được cho gọn. Cái vòng không tự dưng chọn một chỗ. Nó nằm đúng chỗ người ta đã sống mòn cả đời ở đó.
Ra tới đường, Lệ đợi sẵn với hai bịch xôi.
"Có gì không chị."
"Có." Ngần cầm bịch xôi. "Mà chưa biết là gì."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 33 →