Trúc Khê
Ngô Văn Triện (1901–1947), dịch giả "Truyền kỳ mạn lục" ra quốc ngữ, khảo cứu lịch sử Nam tiến, nhà báo cách mạng.
3
Tác phẩm
0
Lượt đọc
0
Lượt thích
0
Theo dõi
35
Chương
Tiểu sử
Trúc Khê tên thật là Ngô Văn Triện, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1901 trong một gia đình nông dân kiêm thợ thủ công nhỏ ở thôn Thị Cấm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ. Ông học chữ Hán từ năm 6 tuổi theo lối khoa cử truyền thống, đến 11 tuổi mới học quốc ngữ ở trường Pháp Việt, sau đó tự học thêm tiếng Pháp. Nền tảng Hán học vững chắc kết hợp với quốc ngữ và Pháp văn giúp ông trở thành một trong những người có khả năng chuyển ngữ cổ văn sang chữ quốc ngữ tốt nhất của thế hệ mình.
Năm 1920, khi mới 19-20 tuổi, ông có bài viết đầu tiên đăng trên báo Trung Bắc tân văn, mở đầu sự nghiệp cầm bút. Ông sớm tham gia phong trào yêu nước, gia nhập tổ chức tiền thân rồi trở thành đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng vào cuối những năm 1920. Năm 1928 ông mở nhà xuất bản riêng mang tên Trúc Khê thư cục tại phố Hàng Bông, Hà Nội, tự in ấn và phát hành sách của mình cùng nhiều tác giả khác. Năm 1929, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại Hỏa Lò do hoạt động liên quan đến Việt Nam Quốc dân Đảng, bị kết án 2 năm tù treo kèm 5 năm quản thúc.
Từ đầu thập niên 1930, Trúc Khê chuyển sang hoạt động báo chí chuyên nghiệp: làm chủ bút báo Bắc Hà (1933), báo Thương mại (1934), và cộng tác với nhiều tờ báo khác ở Hà Nội trong suốt những năm 1935 trở đi. Ông dùng nhiều bút danh khác nhau như Cấm Khê, Kim Phượng, Đỗ Giang, Khâm Trai, Ngô Sơn, Hạo Nhiên Đình bên cạnh bút danh chính Trúc Khê.
Giai đoạn 1937-1945 là thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp trước tác của ông, với khoảng 60 đầu sách được sáng tác, dịch thuật và biên khảo. Đóng góp quan trọng nhất là bản dịch quốc ngữ "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ, hoàn thành và công bố năm 1943, đưa kiệt tác truyền kỳ chữ Hán thế kỷ 16 đến với độc giả phổ thông không biết Hán tự. Ông cũng dịch "Tôn Ngô binh pháp" (gộp binh pháp Tôn Tử và Ngô Khởi), bản in được xuất bản chính thức năm 1953 tức sau khi ông mất, cùng tiểu thuyết Trung Hoa "Ngọc lê hồn" của Từ Chẩm Á, thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, và công trình khảo cứu "Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta". Ông còn biên soạn các sách về danh nhân dân tộc như Nguyễn Trãi (Ức Trai thi tập) và Cao Bá Quát. Năm 1939, ông tham gia một cuộc tranh luận học thuật đáng chú ý với Phan Khôi trên báo chí, viết bài phản hồi bàn về vũ trụ quan của Khổng Tử là duy vật hay duy tâm, thể hiện năng lực nghiên cứu Nho học nghiêm túc của ông chứ không chỉ dừng ở công việc dịch thuật thuần túy.
Bên cạnh dịch thuật và khảo cứu, Trúc Khê cũng sáng tác văn học, tiêu biểu là tiểu thuyết mang màu sắc tự truyện "Đò chiều" (in năm 1944 tại Nhà in Quốc Gia) và tập thơ "Chợ chiều". Ông tích cực tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ giai đoạn 1941-1945, góp phần phổ cập chữ viết dân tộc trong bối cảnh dân trí còn thấp.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối 1946, Trúc Khê rời Hà Nội tản cư cùng gia đình. Ông lâm bệnh nặng và qua đời ngày 26 tháng 8 năm 1947 tại Trại Ro, xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, khi mới 46 tuổi, trước khi kịp tiếp tục hoạt động sâu hơn trong vùng kháng chiến Việt Bắc. Năm 2005, tên ông được đặt cho một con phố ở quận Đống Đa, Hà Nội, ghi nhận đóng góp của ông cho văn học và báo chí quốc ngữ buổi đầu.
Nguồn: Wikipedia
Cuộc đời & sự nghiệp
tác phẩm sự kiện- 1901Sinh ngày 22/5 tại thôn Thị Cấm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), trong gia đình nông dân kiêm thợ thủ công
- 1920Đăng bài báo đầu tiên trên Trung Bắc tân văn, bắt đầu sự nghiệp cầm bút
- 1927Gia nhập tổ chức tiền thân rồi trở thành đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng
- 1928Mở nhà xuất bản riêng Trúc Khê thư cục tại phố Hàng Bông, Hà Nội
- 1929Bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò vì hoạt động cách mạng, án 2 năm tù treo + 5 năm quản thúc
- 1933Làm chủ bút báo Bắc Hà; năm sau (1934) chủ bút báo Thương mại
- 1939Viết bài tranh luận học thuật với Phan Khôi về vũ trụ quan của Khổng Tử
- 1943Hoàn thành và công bố bản dịch quốc ngữ "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ
- 1943📖 Truyền kỳ mạn lục (dịch)
Dịch quốc ngữ tác phẩm truyền kỳ chữ Hán thế kỷ 16 của Nguyễn Dữ, công trình dịch thuật tiêu biểu nhất của ông
- 1944Xuất bản tiểu thuyết tự truyện "Đò chiều"
- 1944📖 Đò chiều
Tiểu thuyết mang màu sắc tự truyện, in tại Nhà in Quốc Gia
- 1947Mất ngày 26/8 tại Trại Ro, Quốc Oai, Sơn Tây, trong lúc tản cư kháng chiến chống Pháp; bản dịch "Tôn Ngô binh pháp" được in chính thức năm 1953 sau khi ông qua đời
- 1953📖 Tôn Ngô binh pháp (dịch)
Dịch gộp binh pháp Tôn Tử và Ngô Khởi từ Hán văn; xuất bản chính thức sau khi ông mất
🏛️ Bối cảnh thời đại
Trúc Khê thuộc thế hệ trí thức Hán học chuyển giao sang quốc ngữ đầu thế kỷ 20, hoạt động chủ yếu ở Hà Nội giai đoạn 1920-1947. Ông là một trong những cầu nối quan trọng nhất giữa kho tàng cổ văn chữ Hán/Nôm (truyền kỳ, binh thư, thơ Đường, danh nhân sử Việt) với độc giả quốc ngữ hiện đại, đồng thời tham gia phong trào yêu nước (Việt Nam Quốc dân Đảng) và phong trào truyền bá quốc ngữ.
Tác phẩm (3)
Ngọc lê hồn (Ngô Văn Triện dịch)
Ngọc lê hồn (Ngô Văn Triện dịch) — Trúc Khê.
Tôn Ngô binh pháp
Tôn Ngô binh pháp — Trúc Khê.
Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta
Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta — Trúc Khê.
Tác phẩm tiêu biểu khác
Công trình khảo cứu lịch sử về quá trình mở cõi về phương Nam của người Việt
Dịch tiểu thuyết Trung Hoa của Từ Chẩm Á
Biên khảo, giới thiệu thơ văn Nguyễn Trãi
Tác giả cùng thời & mối liên hệ
Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.
Ảnh hưởng
Nguyễn Dữ là tác giả nguyên tác chữ Hán "Truyền kỳ mạn lục" (thế kỷ 16); Trúc Khê là người dịch tác phẩm này ra quốc ngữ (1943), quan hệ nguyên tác-dịch giả cách nhau khoảng 400 năm, không cùng thời đại
Trúc Khê biên khảo, giới thiệu cuộc đời và thơ văn Cao Bá Quát (danh sĩ thế kỷ 19), thể hiện sự tiếp nối di sản Hán học trong công việc khảo cứu của ông