🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]
Trang chủ›Lê Văn Trương
L
📜 Tác giả kinh điển

Lê Văn Trương

Đời thường🎂 1906–1964· Làng Đồng Nhân, nay là khu phố Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Nhà văn "Cô Lý" (1906–1964), cây bút viết khỏe nhất văn học tiền chiến (hàng trăm tác phẩm), đề cao "ý chí và sức mạnh".

7

Tác phẩm

0

Lượt đọc

0

Lượt thích

0

Theo dõi

32

Chương

Tiểu sử

🎂 Sinh 1906 · Làng Đồng Nhân, nay là khu phố Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội🕊️ Mất 1964 · Hẻm Bùi Viện, Sài Gòn (nay thuộc phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

Lê Văn Trương sinh năm 1906 tại làng Đồng Nhân, nay là khu phố Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, trong một gia đình gốc Hà Đông lên lập nghiệp ở Bắc Giang. Cha ông là Lê Văn Kỳ, mẹ là bà Nguyễn Thị Sâm. Thuở nhỏ ông học tiểu học ở Bắc Giang, đến năm 1921 theo cha về Hà Nội thi vào trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi). Học đến năm thứ ba, ông bị đuổi học vì cùng một số bạn cầm đầu cuộc phản kháng chống lại một hiệu trưởng người Pháp đã mắng học sinh Việt Nam là "Sale Annamite" (tên An Nam bẩn thỉu). Đây là dấu ấn đầu tiên cho thấy tính cách bộc trực, không chịu khuất phục sẽ theo ông suốt đời.

Năm 1926, sau khi học thêm, Lê Văn Trương thi đậu vào Sở Dây thép Đông Dương và được bổ đi làm tại Battambang, Campuchia. Tại đây ông cưới bà Ngô Thị Hương, con gái một gia đình người Việt kiều cư trú tại đó. Năm 1930, chán cảnh công chức, ông bỏ việc đi khai khẩn đồn điền ở huyện Monkolboray, tỉnh Lovea, giáp biên giới Thái Lan. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1931-1932 khiến ông phá sản, Lê Văn Trương xoay sang nhiều nghề: thầu khoán, buôn bò, buôn ngọc, thậm chí buôn lậu qua Thái Lan, Trung Quốc. Những năm tháng phiêu bạt giang hồ này về sau trở thành chất liệu sống động cho hàng loạt tiểu thuyết phiêu lưu của ông.

Năm 1932, ông trở về nước, gia nhập làng báo, làng văn đất Bắc, cộng tác với báo Trung Bắc tân văn và nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long, viết đều cho các tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Truyền Bá. Năm 1937, Vũ Đình Long giao ông làm Chủ bút báo Ích Hữu; cuối năm ông còn đứng ra chủ trương tờ Ích Hữu đổi mới và Việt Nam hồn. Giai đoạn này, ông thường sánh đôi cùng Trương Tửu cổ xúy cho "triết lý về sức mạnh" - đề cao ý chí, nghị lực cá nhân của con người trước nghịch cảnh, xuyên suốt gần như toàn bộ sáng tác sau này, tiêu biểu là chuyên luận "Triết học sức mạnh" (1941). Cũng năm 1941, ông viết lời tựa cho tập truyện ngắn đầu tay "Đôi lứa xứng đôi" của một cây bút trẻ vô danh là Nam Cao, đổi tên tác phẩm từ "Cái lò gạch cũ", hết lời ca ngợi lối văn "mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn" của tác giả trẻ - tác phẩm về sau được biết đến với tên "Chí Phèo".

Từ năm 1939, Lê Văn Trương gần như chuyên tâm viết tiểu thuyết, viết rất nhanh và rất nhiều. Theo một số nhà nghiên cứu, ông để lại khoảng 200 tác phẩm; theo thống kê của gia đình, con số còn lưu giữ được là 125 cuốn, gồm 96 cuốn đã in và 29 cuốn chưa in - khiến ông được xem là cây bút có số lượng tác phẩm nhiều nhất trong văn học Việt Nam. Giáo sư Phạm Thế Ngũ chia tác phẩm của ông thành ba loại: truyện phiêu lưu giang hồ (Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích, Trường đời, Tôi thầu khoán...), truyện đề cao tình cảm gia đình (Một người cha, Người anh cả, Tôi là mẹ...), và truyện phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu trưởng giả (Trong ao tù trưởng giả, Một cô gái mới...). Giáo sư Nguyễn Huệ Chi nhận xét cái chung của cả ba loại là "triết lý sức mạnh" thể hiện qua hình tượng người hùng xông pha, giàu lương tâm nhưng đôi khi bị đẩy tới mức cường điệu, phi thực tế.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Lê Văn Trương làm Chủ tịch Ủy ban Đãi vàng Bắc Bộ một thời gian, rồi chuyển sang Tiểu ban Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị Liên khu III. Ông từng tham gia chiến dịch đánh Pháp ở Nam Định (5-6/1951) và Hòa Bình (12/1951-1/1952), viết lại trải nghiệm này trong tiểu thuyết "Tôi là quân nhân" nhưng bị phê phán nặng nề vì đề cao "chủ nghĩa anh hùng cá nhân". Năm 1953, do bệnh gan tái phát, ông xin phép về Hà Nội chữa bệnh, cộng tác với báo Mới ở Sài Gòn. Đầu năm 1954, ông chuyển hẳn vào Sài Gòn, làm thầu khoán, viết báo, tái bản sách cũ. Năm 1959, khi đang làm việc cho Đài phát thanh Sài Gòn, ông gặp tai họa oan uổng: vì trùng tên với một người dám đả kích bà Trần Lệ Xuân, ông bị gọi vào Phủ Tổng thống thẩm vấn; dù sự việc sau đó được làm rõ, bà Trần Lệ Xuân vẫn không đính chính, khiến ông bị đài sa thải.

Những năm cuối đời, Lê Văn Trương sống trong cảnh túng quẫn, sách in ra không bán được, công việc kinh doanh đình đốn, lại vướng vào nghiện thuốc phiện khiến khả năng sáng tác gần như kiệt quệ. Ngày 25 tháng 2 năm 1964, ông qua đời tại một căn nhà hẹp trong hẻm Bùi Viện, Sài Gòn, trong cảnh nghèo đói và bệnh tật, hưởng thọ 58 tuổi. Dù bị giới phê bình chê trách về chất lượng nghệ thuật, "cây bút viết khỏe nhất" của văn học tiền chiến này vẫn để lại dấu ấn khó phai qua triết lý ý chí luận và khối lượng tác phẩm đồ sộ hiếm ai sánh kịp.

Nguồn: Wikipedia

Cuộc đời & sự nghiệp

tác phẩm sự kiện
  1. 1906Sinh tại làng Đồng Nhân (nay phố Thịnh Yên, Hai Bà Trưng, Hà Nội)
  2. 1921Vào học trường Bưởi (Trung học Bảo hộ), bị đuổi năm thứ ba vì cầm đầu phản kháng hiệu trưởng Pháp
  3. 1926Thi đậu Sở Dây thép Đông Dương, sang Battambang (Campuchia) làm việc, cưới bà Ngô Thị Hương
  4. 1932Về nước, tham gia làng báo làng văn Hà Nội, cộng tác Trung Bắc tân văn và nhà xuất bản Tân Dân
  5. 1934📖 Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích

    Tập truyện ngắn đầu tay

  6. 1937Được Vũ Đình Long giao làm Chủ bút báo Ích Hữu; cổ xúy "triết lý về sức mạnh" cùng Trương Tửu
  7. 1940📖 Trường đời

    Tiểu thuyết nổi tiếng nhất, mẫu mực của "người hùng" ý chí luận

  8. 1940📖 Tôi thầu khoán (Ba tháng ở Trung Hoa)

    Tiểu thuyết phiêu lưu dựa trên trải nghiệm buôn bán, làm thầu khoán của chính tác giả

  9. 1941Viết lời tựa cho tập truyện ngắn đầu tay "Đôi lứa xứng đôi" của Nam Cao (sau đổi tên thành "Chí Phèo"), đồng thời xuất bản chuyên luận "Triết học sức mạnh"
  10. 1941📖 Triết học sức mạnh

    Chuyên luận trình bày trực tiếp triết lý ý chí/sức mạnh xuyên suốt sáng tác của ông

  11. 1943📖 Ba ngày luân lạc

    Giáo dục tiểu thuyết

  12. 1951Tham gia chiến dịch đánh Pháp ở Nam Định và Hòa Bình, viết tiểu thuyết "Tôi là quân nhân"
  13. 1951📖 Tôi là quân nhân

    Tiểu thuyết tường thuật trải nghiệm tham gia kháng chiến, gây tranh cãi vì bị coi là đề cao chủ nghĩa anh hùng cá nhân

  14. 1954Chuyển hẳn vào Sài Gòn, làm thầu khoán, viết báo, tái bản sách
  15. 1959Bị sa thải khỏi Đài phát thanh Sài Gòn do sự cố trùng tên liên quan đến bà Trần Lệ Xuân
  16. 1964Mất ngày 25/2 tại một hẻm nhỏ ở Sài Gòn trong cảnh nghèo đói, bệnh tật, hưởng thọ 58 tuổi

🏛️ Bối cảnh thời đại

Lê Văn Trương thuộc thế hệ nhà văn nghề nghiệp gắn với báo chí - xuất bản đại chúng Hà Nội giai đoạn 1930-1960, đặc biệt là hệ thống ấn phẩm của nhà xuất bản Tân Dân (Vũ Đình Long) như Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Truyền Bá - nơi quy tụ nhiều cây bút viết nhanh, viết nhiều để phục vụ độc giả bình dân, khác với dòng lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn và dòng hiện thực phê phán. Với khối lượng khoảng 96-200 tác phẩm, ông giữ vị trí đặc biệt là nhà văn viết nhiều nhất văn học Việt Nam tiền chiến, người phổ biến "triết lý sức mạnh"/ý chí luận qua hình tượng người hùng cá nhân.

Tác phẩm (7)

Tác phẩm tiêu biểu khác

Cái xó bếp

Truyện ngắn trong tập Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích

Cánh tay đứa trẻ

Truyện ngắn trong tập Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích

Con quay

Truyện ngắn trong tập Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích

Hai hào

Truyện ngắn trong tập Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích

Những đồng tiền siết máu

Tiểu thuyết phiêu lưu, thuộc dòng truyện giang hồ tiêu biểu của tác giả

Tác giả cùng thời & mối liên hệ

Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.

Ảnh hưởng

Nam Caotrong thư viện

Lê Văn Trương viết lời tựa cho tập truyện ngắn đầu tay "Đôi lứa xứng đôi" của Nam Cao (1941), đổi tên tác phẩm, ca ngợi và giới thiệu Nam Cao với công chúng văn học; tác phẩm sau này nổi tiếng với tên "Chí Phèo"

Người cùng thời

Lan Khaitrong thư viện

Cùng cộng tác trong hệ thống xuất bản Tân Dân

Nguyễn Công Hoan

Cùng là hai cây bút chủ lực, đóng góp nhiều nhất cho tạp chí Phổ thông bán nguyệt san của nhà xuất bản Tân Dân