Móng tay cái bên phải của Kình đã cụt sát thịt từ hôm mùng một.
Tới sáng mùng năm, nó chuyển qua cắn móng trỏ. Bà Tư Nhài đang trải tấm đệm bàng xuống đất, không ngó lên mà vẫn thấy.
"Bỏ tay ra. Cắn nữa là mai hết ngón bốc thuốc."
"Con đâu có cắn. Con thổi cho nó khô."
"Khô cái gì?"
"Sương." Kình chùi tay vô ống quần. "Sáng nay sương nhiều à nghen ngoại."
Bà dúi cho nó bó ngải cứu. Chợ phiên Tri Tôn mới giăng được nửa dãy, phía núi Cấm trời còn xanh xám. Mùi khói bếp nhà ai trộn với mùi mắm sặc, mùi phân trâu còn ấm. Kình ngồi chồm hổm, sắp thuốc lên tấm đệm theo một thứ tự chỉ mình nó hiểu.
Nó không đọc được chữ. Mấy hàng chữ Nho trên bảng hiệu tiệm thuốc bắc ngoài huyện, với nó, giống một bầy kiến bị ai dẫm lên. Nên nó nhớ giá bằng dây lạt. Bó nào buộc một gút là một tiền, hai gút là hai tiền, gút thắt đôi là nửa quan, như củ nghệ đen bà phải leo lưng chừng núi Dài mới đào được.
Tối về, cứ đủ mười tiền, nó lấy than vạch một vạch lên tấm ván lót đáy gánh. Đủ mười vạch thì khoanh lại thành một vòng, một vòng là một quan.
Tấm ván ấy hiện có một vòng với bốn vạch. Mùng mười phải có ba vòng.
"Ê nhóc."
Tiếng khàn khàn vọng lên từ cái thúng phía sau lưng. Kình không quay lại, chỉ nghiêng đầu.
"Gì."
"Đói chưa?"
"Mới ăn cơm nguội hồi tờ mờ."
"Tao hỏi tao, chớ ai hỏi mày."
Kình thò tay ra sau, lần xuống đáy thúng, móc lên nửa củ khoai lang luộc giấu từ tối qua. Một bàn tay nhỏ, lông nâu xám bù xù như cây chổi đót cũ, chìa ra nhận lấy. Chỉ có một bàn tay. Phía bên kia, chỗ lẽ ra là tay thứ hai, cụt ngủn, túm lông ở đó lúc nào cũng dựng ngược như bị gió thổi.
Cộc ở trong nhà từ hồi Kình còn bò. Nó ngủ trên nóc tủ thờ, nói bằng cái giọng của ông già hút thuốc rê cả đời, và ngoài hai bà cháu, không ai trong ấp từng thấy nó. Thằng Tửng nhà bên có lần hỏi sao đêm nào cũng nghe ai ho trên nóc nhà. Kình nói con tắc kè bị cảm.
"Khoai nguội." Cộc nhai nhóp nhép. "Mày giấu kỹ quá, nguội luôn cái lòng tự trọng."
"Có ăn thì ăn."
"Bữa nay tính bán được mấy vạch?"
"Mới sáng mà, ai biết."
"Mùng mười gần tới rồi đó nghen."
"Tui biết. Khỏi nhắc."
"Tao nhắc là tại mày cắn móng tay kêu rôm rốp, tao ngủ không được."
"Nằm im. Người ta tới kìa."
Người khách đầu tiên là một chị bồng con, đứa nhỏ ho khù khụ. Kình bốc cho chị hai nắm lá hẹ với một nhúm húng chanh.
"Chưng đường phèn cho em uống nghen chị. Ba bữa là bớt."
Chị trả một tiền. Kình bỏ vô túi áo, rồi lén nhét thêm ba lá tần dày cui vô gói. Bà Tư Nhài thấy, nhướng mày, không nói gì.
Nắng lên, chợ đông dần. Ông già người Khmer có cái răng vàng cầm bó rễ tranh lên, lật qua lật lại.
"Bao nhiêu?"
"Hai tiền, ông."
"Tiền rưỡi."
"Hai tiền. Con đào muốn gãy lưng đó ông."
"Tiền rưỡi. Thêm cái này." Ông móc trong túi ra hai trái me chua.
Kình ngó hai trái me, ngó cái răng vàng, rồi gật. Me thì nó chia cho Cộc một trái.
Gần trưa, túi áo rủng rỉnh được sáu tiền. Kình gập ngón tay đếm hai lần. Vẫn là sáu.
"Ngoại."
"Hử."
"Ông Sáu Lợi nói hạn là mùng mười hả ngoại?"
Bà Tư Nhài đang bó mấy nhánh sả. Tay bà khựng lại một nhịp, rồi bó tiếp. "Mùng mười."
"Ba quan."
"Ba quan."
"Mình có một quan bốn. Bữa nay thêm sáu tiền nữa là hai quan chẵn." Kình gập ngón, mở ngón. "Còn thiếu đúng một quan."
"Ừ."
"Mùng mười cũng là ngày chợ. Mình bán nguyên buổi, chiều đem qua ổng, kịp không ngoại?"
"Kịp."
"Ngoại nói kịp mà mặt ngoại đâu có kịp."
Bà ngó nó. Mắt bà đục như nước giếng mùa khô, vậy mà bà nhìn một cái là Kình muốn rụt cổ vô áo.
"Hồi ngoại nằm liệt mùa nước năm ngoái, ai đi mua gạo?"
"Con."
"Ai đi hốt thuốc bắc ngoài huyện?"
"Con."
"Tiền đó ở đâu ra?"
Kình im. Tiền đó là ba quan ông Sáu Lợi cho vay, ghi vô cuốn sổ bìa đen để trên quầy tiệm tạp hóa đầu ấp, cạnh hũ kẹo gừng. Nó không đọc được dòng ông ghi, chỉ nhớ ông gạch một đường dài dưới chót rồi nói: "Mùng mười tháng Chín, bà Tư nhớ nghen."
"Con hỏi vậy thôi mà." Nó lầm bầm.
"Thì ngoại trả lời rồi đó."
"Bán tao đi." Cộc nói vọng lên từ đáy thúng. "Được năm quan. Dư hai quan mua thịt."
"Ai mà mua mày."
"Nói vậy chớ tao quý lắm. Hàng hiếm. Có một tay."
Kình phì cười, rồi vội ho lấp đi. Bà Tư Nhài không cười. Bà ngó cái thúng một cái rất lâu, lâu hơn cái ngó mọi ngày, rồi quay đi xếp lại mấy củ nghệ.
Thôi kệ, Kình nghĩ. Mùng mười nó dậy sớm, lên núi hái thêm lá vông, bán rẻ hơn sạp đầu dãy nửa tiền mỗi bó. Người ta ham rẻ.
Nó ngó qua sạp bên cạnh cho đỡ nghĩ. Sạp bà Ba Khô bán khô cá lóc, tôm khô, bánh phồng, mấy xâu khô treo lủng lẳng trên sào tre. Trên cột chống mái dán một lá bùa to cỡ bàn tay, giấy vàng đã ngả màu nước trà, chữ đỏ chạy ba hàng, góc dưới đóng một dấu tròn đỏ.
Bà Ba hay khoe với khách: "Thỉnh trên chùa núi đó. Dán vô là hàng không mất một món. Mà năm nào cũng phải thay, để quá hạn là hết giữ." Tờ này bà dán từ Tết năm ngoái. Năm nào bà cũng kể, năm nay thì quên.
Kình không bao giờ tới gần mấy tờ giấy vàng. Cái sẹo dài mờ dọc cánh tay trái là của năm nó bảy tuổi. Nó kéo tay áo xuống, theo thói quen.
Một con chuột nhắt lủi qua dưới sạp khô. Kình thấy cái đuôi nó ngoe nguẩy sau thúng tôm, rồi mất.
"Nhóc." Giọng Cộc tự nhiên nhỏ lại. "Mày nghe gì không?"
"Nghe gì?"
Cộc không trả lời.
Rồi từ sạp bà Ba Khô vang lên một tiếng xoẹt. Nhỏ thôi, như có ai xé đôi một tờ giấy.
Tiếp theo là một tiếng khác, không giống bất cứ tiếng gì Kình từng nghe trong chợ. Người đứng quanh sạp khô ngưng trả giá, quay đầu lại.
Người ta bắt đầu dạt ra.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →