🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Phong hàn, thử, thấp, nấu nung; Mừng, giận, nghĩ lo, uất kết,

Héo tươi, khổ, sướng, tất tổn đến tinh thần;

Nhọc, rỗi, đói, no, đều hại cho khí huyết.

Đã có sống khó mà trốn khỏi;

Đã có thân ai cũng thế thôi.

Bẩm thụ người hư thực chẳng đồng, phải giữ mực thường mới được;

Cây cỏ chất độc lành đều khác, chưa rõ tính nó chớ dùng.

Thuốc nào mà chẳng hiệu; Dùng đúng thì hay.

Thử ngậm ô mai, răng ê ngay mà nước dãi chảy;

Vừa thổi Bồ kết, hắt hơi liền mà lỗ mũi thông.

Ăn cải cay mà lệ vòng quanh; Nhai Hoa tiêu mà hơi bế tắc.

Âm giao dò biết nhọt trong ở đâu;

Tiêu mạt chữa chứng đầu đau tưởng chết!

Đái vặt, dái săn, đêm sắc Tỳ giải; Mình lạnh, bụng lớn, nhờ cả Lô từ.

Nước đái rùa chữa được cấm khẩu;

Xương xảu chuột làm cho mọc răng.

Từ thạch bắt được mũi kim;

Hổ phách nhặt được hạt cải.

Mật rái rẽ được nước, Keo loan nối được xương;

Cho ngó sen mà tiết không đông;

Bỏ xác cua mà sơn tan rữa.

Nhựa có thể nấu tan quế ra nước;

Mỡ cóc có thể làm mềm ngọc như bùn.

Tạm kể ít điều để làm chứng nghiệm rõ ràng;

Cho rõ hết thảy đều có công dụng riêng biệt

Thường khi dùng một, khí thuần nhất thì công hiệu càng nhanh.

Hoặc lúc kiêm nhiều, vị phức tạp mà kết quả hơi chậm.

Tá, sứ biết để tâm kén kỹ, giúp đỡ thêm thì chóng thu công;

Uý, ố lầm những vị trái nhau, ganh ghét lộn sẽ thành rắc độc.

Mừng, lo trông cả ở bệnh lui hay tiến;

Chết sống quan hệ bởi phương dở hay hay.

Phải tinh tường theo sách định bài;

Chớ quấy quá gặp chăng hay chớ!

Đối chứng lập phương, phải lọc lấy sở trường trong các sách;

Tùy nghi dùng thuốc, họa là mong công hiệu được vạn toàn.

Tiều rằng: Hỏi phụ nhân khoa,

Xin nghe các chứng đàn bà có thai.

Coi trong kinh lạc mười hai,

Chia theo mười tháng nuôi thai xưa bàn

Dưỡng thai một tháng kinh can,

Hai tháng kinh đảm, ba sang tâm bào,

Bốn tháng kinh tiểu trường trao,

Năm tháng tỳ dưỡng, sáu vào vị hương,

Bẩy tháng kinh phế nuôi thường

Bước qua tám tháng đại trường thay phiên

Chín tháng kinh thận nối liền,

Trọn phần mười tháng về miền bàng quang.

Mười kinh, mười tháng chia đàng,

Âm dương thủ túc nuôi bàng Xung Nhâm

Cớ sao kinh Thiếu Tâm,

Cùng Tam Tiêu phủ chẳng cầm nuôi thai?

Môn rằng: Một việc dưỡng thai,

Có lời Sào thị để bài sách biên.

Tâm làm mẫu tạng chủ chuyên.

Tam tiêu phủ ấy làm truyền tống quan,

Gốc thai lấy máu làm sang,

Máu nhờ tâm chủ tóm đàng mạch kinh.

Cho hay mạch máu các kinh,

Nhóm nuôi chửa nghén nên hình bởi tâm.

Phải nhường kinh Thủ Thiếu âm,

Chẳng chia phiên thứ mối cầm chủ trương,

Gẫm trong kinh lạc âm dương,

Năm hành đắp đổi lẽ thường sinh nhau,

Có ông Phùng thị nối sau,

Gốc theo Kinh chỉ, lời mầu luận cao,

Kinh rằng "tâm với tâm bào",

Tuy chia hai mạch thực vào một nơi.

Mười hai kinh lạc máu hơi,

Ngày nào chẳng khắp vần nơi trong mình,

Có thai rồi lại bế kinh

Vầy hơi nhóm máu, đồng tình nuôi thai.

Lấy lời Sào thị luận thai,

So lời Phùng thị vắn dài khác nhau,

Học thời sáng lẽ làm đầu,

Lời nào xác lý phải cầu xét coi.

Tiều rằng: Thai đã đặng nuôi,

Có thai thời đẻ xong xuôi vuông tròn.

Cớ sao lắm kẻ chửa non,

Hoặc năm ba tháng, rồi con chẳng thành.

Môn rằng: Một việc thai sinh,

Nên hư trách ở trong mình phụ nhân.

Thuần Khôn là người phụ nhân,

Máu hơi đầy đủ trong thân tốt lành.

Có thai đủ tháng thời sinh,

Ấy là trời đất thường tình xưa nay.

Bởi người khí huyết chẳng đầy

Mạch Xung Nhâm yếu giống gầy sao nên,

Thai nguyên gốc đã chẳng bền

Lại thêm bệnh hoạn dưới trên nhộn nhàng,

Trách chi chửa nghén chẳng an,

Tiểu sản, bán sản, liền mang nơi mình.

Ví như trái trổ trên nhành,

Gốc cây chẳng vững, trái đành rụng non,

Máu hơi mỏng yếu đẻ con ra gì.

Thêm lòng dâm dục lỗi nghi,

Ăn chơi chẳng kể vật chi dữ lành.

Thêm thầy hốt thuốc bất kinh,

Lầm đem vị độc hại tinh huyết người.

Muốn cho xen giúp thợ trời,

Trị thai phải dụng coi lời cấm xưa.

Nhâm thần cấm phục ca (Bài ca về các vị thuốc cấm dùng cho đàn bà có thai)

Dịch nghĩa:

Nguyên trùng, ban miêu, đỉa và manh trùng

Ô đầu, Phụ tử và Thiên hùng

Dã cát, Thủy ngân cùng Ba đậu,

Ngưu tất, ý dĩ và Ngô công (con rết),

Tam lăng, Nguyên hoa, Đại giả thạch, Xạ hương,

Đại kích, Xà thuế (Xác rắn), Thư hoàng, Hùng hoàng,

Nha tiêu, Mang tiêu, Mẫu đơn, Quế,

Hòe hoa, Khiên ngưu, Tạo giác (bồ kết),

Bán hạ, Nam tinh, Thông thảo,

Cồ mạch, Can khương cùng Đào nhân,

Chu sa, Can tất, Giải trảo giáp (mai cua),

Địa đảm, Mao căn (gốc cỏ tranh) đều không được dùng.

Tiều rằng: Phép trị trước thai,

Bao nhiêu chứng nhiệt, dùng bài thuốc lương.

Đến như chứng lạnh không thường,

Cấm dùng thuốc nóng, còn phương pháp gì?

Môn rằng: Muốn rộng chước y,

Bệnh thường, bệnh biến, phải suy cho tường.

Thai tiền hợp dụng thuốc lương,

Ấy là chỗ luận bệnh thường phép y.

Đến như bệnh biến chứng kỳ,

Quen theo thường trị, lấy gì làm công?

Như đau lạnh thấu tử cung,

Can khương, Quế, Phụ chẳng dùng sao an?

Như đau máu chứa bàng quang,

Phương nào khỏi hốt Đại hoàng, Đào nhân?

Bệnh thời bệnh chịu đã ưng,

Chỗ đau có cớ, nào từng phạm thai?

Xưa rằng y biến thật tài,

Ứng theo máy trị, nhiều loài, nhiều phương.

Coi thiên "thai dựng biến thường"

Việc người chữa nghén lắm đường bất kinh.

Có người gọi chứng "ám kinh",

Tháng không nhơ uế mà mình nên thai.

Có người gọi chứng "cấu thai",

Nghén rồi, kinh nguyệt xầy xầy máu ra.

Máu ra mà nghén chẳng sa,

Gọi rằng "thai lậu", thật là huyết dư.

Hết Chương 23

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 24
← TrướcTiếp →