Chuyến số hai mươi hai của tháng, ghi trong sổ là BV tỉnh → cù lao Bảy Giáp, xã Mỹ Giáp, một trăm mười bảy cây số, khách trả trọn gói ba triệu tám, đã nhận cọc một triệu.
Trọng chạy đoạn quốc lộ trong đêm, rẽ tỉnh lộ lúc bốn giờ hai mươi, và tới ngã ba có tấm bảng chỉ CẦU BẢY GIÁP 2KM thì trời vừa đủ sáng để tắt đèn pha.
Anh đi theo bảng. Đường mới, nhựa còn đen, vạch sơn còn trắng. Chạy được một cây rưỡi thì thấy cây cầu, và cây cầu đẹp thật: dây văng trắng, mặt cầu rộng bốn làn, cao vồng lên giữa hai bờ ruộng. Anh cho xe lên cầu, qua cầu, và ở đầu bên kia thì đường nhựa hết.
Không phải hết theo kiểu có biển báo. Hết theo kiểu con đường chạy thêm được chừng hai trăm mét nữa rồi thành đất, rồi đất thành bùn, rồi bùn có hai vệt bánh xe máy in sâu tới nửa gang tay, và ở chỗ đó có một cái cọc tre cắm nghiêng buộc mảnh bao ni lông đỏ.
Trọng dừng xe, kéo thắng tay, xuống coi.
Bùn tới mắt cá. Anh lấy cây thước dây trong cốp, không phải để đo bùn mà theo thói quen của người đã hai lần sa lầy xe chở thi hài và cả hai lần đều phải gọi máy cày ra kéo, mỗi lần một triệu hai và mất trọn buổi. Anh đi bộ vô chừng năm mươi bước rồi quay lại. Đằng xa, qua khỏi chỗ bùn, đã thấy nóc nhà.
Anh mở sổ ra, ghi vào cột ghi chú của chuyến hai mươi hai: đường dẫn chưa xong, ước 400m.
Người nhà tới lúc sáu giờ kém. Hai người đàn ông trung niên đi xe máy, quần xắn tới gối, chân dính bùn tới bắp. Người lớn tuổi hơn tự giới thiệu là con rể bà cụ, tên Nhành.
"Chú thông cảm," anh ta nói, và anh ta nói câu đó trước cả câu chào. "Bên tui đâu có ngờ xe vô không được. Hồi đám ông già tui năm kia còn đi đò ngang cái vèo."
"Đò giờ sao rồi anh?" Trọng hỏi.
"Dẹp rồi. Cầu xong cái là dẹp." Anh Nhành gãi cổ. "Ai dè đường dẫn nó làm lâu vậy."
Trọng không nói gì. Anh đã chạy nghề này chín năm và trong chín năm đó anh học được rằng cái câu ai dè thường đứng ngay trước một khoản chi phí mà không ai chịu.
"Vậy giờ tính sao?" anh hỏi.
"Đi đò." Anh Nhành chỉ tay ngược lại phía sau lưng Trọng, về hướng con đường nhựa cũ chạy dọc bờ. "Chú chạy ngược lại chừng bốn cây, tới bến. Bển có xuồng."
Bến đò nằm cuối một con dốc đất đỏ. Trọng lùi xe vô sát mép dốc, quay đầu sẵn, chèn hai cục gỗ dưới bánh sau, rồi mới tắt máy.
Bến đã dẹp thật. Cái nhà chờ mái tôn còn đó nhưng vách đã tháo, chỉ còn bốn cây cột và một băng ghế xi măng. Trên cột còn dán tờ giấy ép plastic in bảng giá cũ, chữ đã phai gần hết, đọc còn được mấy dòng: người 3.000 · xe đạp 5.000 · xe máy 8.000. Cầu tàu bằng bê tông thì vẫn nguyên, năm bậc, bậc dưới cùng ngập nước, bậc thứ tư có rêu. Hai cái cọc neo bằng sắt hàn, đầu cọc mòn nhẵn bóng, chỗ dây thừng miết mười mấy năm.
Không có đò.
Có một cái xuồng máy đậu cách đó chừng ba chục thước, cột vào gốc bần, và có một người đàn ông ngồi trên be xuồng hút thuốc.
Anh Nhành đi xuống, nói gì đó. Người đàn ông ngồi nghe, không đứng lên, gật đầu một cái.
"Bảy Trượng chịu chở rồi," anh Nhành quay lên nói. "Bốn trăm."
"Bốn trăm cả chuyến hay bốn trăm một lượt?"
"Một lượt. Quan tài với người nhà đi chung một chuyến, đồ đạc chuyến sau."
Trọng gật. Anh mở cửa sau xe, tháo dây chằng, kiểm tra lại bốn khoá.
Việc khiêng mất bốn mươi phút, và trong bốn mươi phút đó Trọng làm cái việc anh vẫn làm: đứng ở đầu quan tài phía chân, đi lùi, và giữ cho cái đầu kia lúc nào cũng cao hơn. Bậc bến trơn. Ở bậc thứ ba anh trượt nửa bàn chân, ghì lại được bằng gối. Không ai thấy.
Cái xuồng nhỏ hơn cỗ quan tài tưởng. Bảy Trượng lấy hai tấm ván lót ngang be, buộc bằng dây, đặt quan tài lên đó. Ông làm nhanh và làm im, tay thắt nút kiểu người đã thắt nút cả đời, và ông không hỏi ai một câu nào.
Xuồng nổ máy, quay mũi, chạy ra. Người nhà ngồi hai bên be, tay vịn thành quan tài. Tấm vải đỏ phủ trên nắp phồng lên rồi dán xuống theo gió.
Trọng đứng lại trên bậc bến coi cho tới khi cái xuồng qua khỏi giữa sông.
Sông rộng hơn anh tưởng lúc nhìn từ trên cầu. Từ trên cao thì mọi khúc sông đều hẹp. Đứng dưới mé nước thì bờ bên kia là một vệt xanh thấp, và cái xuồng chở quan tài ở giữa trông nhỏ tới mức vô lý.
Anh quay lên, lấy bình nước trong xe, súc miệng, nhổ xuống đất. Còn hai chuyến đồ đạc nữa, mỗi chuyến chờ chừng bốn mươi lăm phút cả đi cả về. Anh tính ra ba tiếng.
Ba tiếng thì anh ngồi ở quán nước.
Trước khi đi, anh làm nốt phần việc mà hợp đồng của anh hết trách nhiệm từ lúc quan tài rời khỏi xe, nhưng anh vẫn làm ở mọi chuyến, chín năm rồi. Anh lấy cây chổi cùn để trong cốp, quét sạch sàn thùng xe, gấp tấm bạt lót lại theo nếp cũ, xếp bốn cái dây chằng thành bốn cuộn bằng nhau, và lau hai cái tay nắm cửa sau bằng khăn ẩm.
Rồi anh mở sổ, viết vào cột cuối cùng của chuyến hai mươi hai:
Giao xong 8g10. Sang sông bằng xuồng, người nhà tự trả 400/lượt, 2 lượt.
Anh ngừng bút một chút, rồi viết thêm một dòng nữa, dòng mà lẽ ra không cần có trong sổ chuyến của một người lái xe:
Bến này không còn đò.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →