Trau mình giữ thẳng làm lành mới nên.
Hai con chử dạ cho bền,
Một câu "minh đức" chớ quên thơ nầy.
Minh Đức Thi:
Trên là quan trưởng dưới là dân,
Giữ tấm lòng lành, rảnh thấm thân.
Đi học phải toan tìm cội đức,
Đặng thời chớ khá dứt nguồn ân,
Bốn mùa đông rạng đều theo số,
Trăm họ giàu nghèo cũng có phần.
Xin giữ lòng hằng, dè việc quấy,
Một câu phúc họa, để trời cân.
Dương Trân, Dương Bửu từ đây,
Chịu thầy cho sách, liền xây trở về.
Bữa đi chăn ngỗng chăn dê,
Sách đem theo học, chẳng hề chơi hoang.
Thường ra sơn cốc bên đường,
Bẻ cây tập viết bốn dường chữ xưa,
Ngày liền vào miễu hỏi thưa,
Mấy câu chữ mắc, lý chưa đặng rành.
Học hành mình biết cho mình,
Mẹ già cùng cậu sự tình nào hay.
Phút đâu hơn một năm chầy,
Tôn sư điển ấy hết bày vẽ chi,
Lần hồi ngày tháng qua đi,
Vừa nên tám tuổi, gặp kỳ trùng dương,
Người xưa gặp tiết trùng dương,
Đều lên kiếm núi, lánh đường họa tai.
Có thày dạy học cao tài,
Tên là Trình Kiệt ở ngoài Hạc lâu.
Làm người ở ẩn khôn cầu,
Gió trăng vui thú, công hầu mặc ai.
Thường đi non nước chơi hoài,
Đôi ba chén rượu, một vài câu thi.
Thơ rằng:
Cảnh xuân cho mát mấy mươi đều.
Gấm nhiễu văn người phải gắng theo.
Luôn tháng ngày Châu tin phụng gáy,
Buồn non nước Tống tiếng quyên kêu,
Nhà nho leo lét công đèn lửa,
Biển thánh linh đinh phận bọt bèo.
Ôm đạo một lòng trời đất thấy,
Luống vì bầy trẻ dựng làm nêu.
Than rằng: Sanh chẳng gặp thì,
Phải cam ở dưới cán kỳ tư văn.
Một lòng giữ mối đạo hằng.
Trau lời thế giáo, cằm dằn nhân luân.
Phút đâu gặp bữa thanh thần,
Thật ngày trùng cửu, là phần cuối thu.
Đem bầy trò nhỏ ngao du,
Tới non Cẩm thạch, ở dầu châu Khê.
Nghỉ xem phong cảnh ra đề,
Thấy hai ông lão ngồi kề trên non.
Lại xem bên bến suối Son,
Thấy bầy hươu chạy như tuồng binh đi.
Ra hai câu đối nên kỳ,
Các trò ngơ ngáo, đáp chi xong lời.
Xúm nhau đương nghĩ đối chơi,
Phút đâu Trân, Bửu, đến nơi xem tường.
Trân rằng: Câu đối cũng thường,
Tôi xin đáp lại coi dường sức nao.
Tôn Sư Xuất Đối Đề:
Chữ "mao", chữ "điệt".
Hai ông lão tử ngồi trên.
Dương Trân Đáp Đối Đề:
Đàn sắt, đàn cầm.
Bốn kẻ vương tôn đứng trước,
Dương Trân đối một câu rồi,
Lại thêm Dương Bửu đối bồi một câu,
Tôn Sư Xuất Đối Đề:
Hùng hổ tỳ hưu,
Nhà tướng rằng muôn đội.
Dương Bửu Đáp Đối Đề:
Long lân quy phụng,
Nước vua gọi là bốn linh.
Thầy Trình thấy đối nên kinh,
Khen cho hai gã tiểu sinh thần đồng.
Thầy bèn gạn hỏi thủy chung,
Liền theo hai gã thẳng xông về nhà.
Anh em Trân, Bửu về nhà,
Thưa cùng cậu, mẹ, đều ra mừng thầy,
Cùng nhau chuyện vãn tỏ bày,
Rượu cơm thiết đãi, trọn ngày vầy vui.
Người trong làng xóm tới lui,
Mới hay họ Đỗ có nuôi thần đồng,
Thầy rằng: Nay dám bày lòng,
Xin nuôi hai trẻ theo dòng nho gia,
Hạc lầu về ở cùng ta,
Học cho biết đạo ngỏ ra giúp đời
Đỗ nương, Đỗ Khoái vâng lời,
Đành cho hai trẻ theo nơi Hạc lầu.
Hạc lầu là chốn nho lưu,
Ra công mài ngọc lưu cầu vẽ văn,
Anh em Trân, Bửu hai thằng,
Nay đà khỏi việc nhọc nhằn ngỗng, dê.
Theo thầy Trình Kiệt ra về,
Đua nhau gắng sức học nghề văn chương,
Hôm mai ở chốn thơ đường,
Bao nhiêu sĩ tử đều nhường ngôi trên.
Nói ra thơ phú liền nên,
Sách coi qua mắt, chẳng quên câu nào.
Cho hay tuổi nhỏ tài cao,
Thông minh hẳn có trời trao tánh tình,
Đến khi đọc sách Thi Kinh,
"Lục Nga" thơ ấy động tình xiết bao.
Nhớ câu chín chữ cù lao,
Công ơn cha mẹ no nao đặng đền.
Chạnh lòng buông tiếng khóc lên.
Dòng châu lai láng thấm trên đất dày.
Anh em bái tạ ơn thầy,
Trở về viếng mẹ chầy ngày cách xa.
Nàng rằng: Mừng thấy con ta,
Bấy lâu thương nhớ mình già thêm suy,
Kể từ hai trẻ ra đi,
Ba năm học đạo, biết gì cùng không?
Mẹ già mòn mỏi lòng trông,
Nương lều, dựa cửa, bỏ công tháng ngày.
Thơ rằng: Đạo thánh kể bày:
Làm con thảo thuận tiếng hay xa đồn.
Thường xem trong sách thánh môn,
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 24 →