Số trời khôn cải, hết lòng thời thôi.
Liễu nương từ thuở thác rồi,
Hai con tám tuổi, mồ côi nhà nghèo.
Cậu, cô, ép uổng khiến theo,
Đọc kinh xem lễ giữ lèo lái xưa.
Tuyết, Băng, lòng vốn chẳng ưa,
Chị em giữ phận đẩy đưa tiếng người,
Nói rằng: Theo đạo năm đời,
Trong khi nào thấy có lời chi hay,
Cha già đi mất lâu nay
(Thiếu một đoạn)
Đọc kinh xem lễ làm gì?
Ơn cha chẳng đoái, còn ghi đạo nào?
Cậu, cô, ghét tiếng cầu cao,
Bỏ điều đói rách, lẽ nào trối thây!
Chị em hẩm hút qua ngày,
Trời sanh trời dưỡng, xày xày cũng xong.
Châu Kỳ thấy cũng động lòng,
Liền cho tiền gạo để phòng nuôi nhau.
Chị em bàn luận cùng nhau,
Việc cha thuở trước họ Châu nói liền.
Rằng: Cha theo Lý Tri Niên,
Đem đi tìm đạo cảnh tiên non Bồng.
Vả đây lên chốn non Tùng,
Đường đi hiểm trở, hầu mong cũng gần,
Muốn cho đặng chữ "hiến thân",
Phải đi lên đó một lần cho hay.
Tìm cha thời phải hỏi thầy,
Mất còn cho hẳn, lòng nầy mới an,
Chị em cơm nước sửa sang,
Nhằm chừng Tùng lãnh băng ngàn phăng phăng.
Cám thương Xuân Tuyết, Thu Băng,
Tuổi còn thơ ấu, nhọc nhằn xiết bao!
Tìm cha nên chốn non cao,
Kể nào thú dữ, màng nào thảnh thơi.
Chị em đi quá nửa ngày,
Hỏi thăm chẳng thấy, trở quày lộn ra,
Hai bên cây đá giao hòa,
Trong non nào thấy cửa nhà chi đâu,
Đường chim dấu thỏ, luôn nhau,
Chị em ngơ ngẩn khôn cầu đường ra,
Non đoài bóng ác hầu tà,
Cùng nhau lần bước đi qua Thạch bàn.
Thạch bàn lại có khe ngang,
Mở cơm ăn uống, rồi toan hỏi người.
Dưới chân đau mỏi khôn dời,
Cùng nhau lẩn thẩn, phút trời hoàng hôn.
Khóc than tiếng dậy như cồn,
Kêu rằng: Cha hỡi! Linh hồn ở đâu?
Chứa chan muôn thảm ngàn sầu,
Hai con sống thác, ai hầu biết cho?
Dắt nhau lên đá nằm co,
Khóc rồi lại ngủ, biết lo phương gì.
Non cao cây cối rậm rì,
Nằm queo lại ngủ, gặp kỳ đêm đông.
Thương thay! Sương tuyết lạnh lùng,
Năm canh đá gối, sương mùng, xiết bao!
Bóng trăng vừa thấy lên cao,
Một bầy thỏ bạch nhảy vào mừng vui.
Nằm khoanh trên đá nối đuôi,
Bao nhiêu sương tuyết, lông chùi sạch trơn.
Đêm đông hơi ngáy tợ đờn,
Chị em giấc ngủ nhờ ơn đăng bền,
Vầng ô vừa lố bóng lên,
Giựt mình trực thấy, thỏ bên nhảy liền,
Ngày sau việc ấy sách biên:
Tướng tinh mộng nguyệt; kết duyên Dương Hà.
Mặt trời vừa lố sáng ra,
Chị em lòng đói, xót xa phận mình.
Chim đâu bay tới thình lình,
Xanh lông, đỏ mỏ như hình sơn son.
Đậu trên đầu đá hai con,
Trái đào, mỏ gắp quăng lòn xuống cho.
Chị em cầm ngửi thơm tho,
Nhờ ăn đào ấy, đặng no tấm lòng.
Chưa hay đi đặng cùng không,
Đoạn sau mới biết cùng, thông, mọi đàng.
Thứ này tới chuyện Tấn vương,
Sửa sang nhà nước, bốn phương vững vàng.
Buổi chầu đông mặt bá quan,
Hai bên văn võ đều bàn việc dân.
Có quan Bảo giá họ Tần,
Quỳ dâng lời sớ ở phần Dự châu.
Tấn vương xem thấy lòng sầu,
Mới hay một trấn Dự châu mất mùa.
Phán rằng: Nghiêu, Thuấn, làm vua,
Chín năm nước lụt mà mùa chẳng hư;
Vì lòng lo sợ có dư,
Phải toan chữ "đức" đặng trừ chữ "tai".
Ngày nay châu Dự cõi ngoài,
Muôn dân đói khó, nào ai đỡ đần!
Tần Khanh trước bệ liền tâu:
Xin đi kinh lược Dự châu một lần.
Trước là chẩn thải muôn dân,
Sau răn quan lại, khỏi phần gian tham.
Tấn vương y tấu cho làm,
Phê rằng: "Thay trẫm, đông nam tuần hành".
Tần Khanh phụng chỉ triều đình,
Thối triều sắm sửa, giàn binh mã rồi,
Về dinh tạm nghỉ một hồi,
Phu nhân liền đặt lễ bồi xin đưa.
Thưa rằng: Cám nỗi dây dưa,
Đoái câu "lân chỉ", nhà chưa phỉ nguyền
Nay ông vâng lịnh tuần biên,
Ra ơn, làm phước, cầu duyên phận mình.
Hoặc là trời chút thương tình,
Sớm cho đặng chữ minh linh nối dòng.
Miễn là nối nghiệp cho ông,
Tôi, phần liễu yếu dám trông lẽ gì!
Tần Khanh từ giã ra đi,
Rần rần xe ngựa một khi đăng trình.
Ngưỡng chiêm kỳ, cổ, nghiêm minh:
Trải qua các trấn, sanh linh đều mừng.
Đua nhau rượu thịt đem dâng,
Đốt hương, đội trạng, tưng bừng xã thôn.
Mười ngày tới huyện long môn,
Xảy vừa gặp lúc hoàng hôn bóng vầy.
Huyện đường xin rước vào đây,
Truyền quân tạm nghỉ rạng ngày sẽ đi.
Đêm đông tiếng trống trì tri
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 21 →