Hãy còn ở cửa thứ mười xin ăn.
Một người tên gọi Hà Năng,
Thật người Hà Mậu kêu bằng ngôi ông,
Châu Phan lời nói chưa xong,
Quỷ đà kéo cổ vào trong Án tào
Lại nghe quỷ sứ lao xao,
Dẫn một người nào, đầu trọc mang gông,
Dương Từ xem thấy nghi lòng,
Lại gần vốn thật thầy trong chùa mình.
Hỏi rằng hòa thượng tu hành,
Cớ sao mà mắc tội tình chi đây?
Đáp rằng: Từ thuở chơi mây,
Am vân hôm sớm hằng vầy kệ kinh.
Chẳng may lâm bệnh xá sanh,
Chưa hay buổi ấy âm linh tội gì!
Nói rồi quỷ sứ dẫn đi,
Vào Án tào ấy một khi tra tường.
Án tào quỷ sứ phụng chương,
Đặng dâng bệ ngọc, Diêm vương ngự rằng:
Châu Phan là đứa vô ân,
Đành lòng chẳng tưởng mồ phần tổ tiên.
Mình sanh trong cõi trung nguyên,
(Thiếu một đoạn)
Hiềm vì nghề nghiệp y môn,
Chẳng coi sách vở, làm khôn hại người.
Phó cho cầm cửa thứ mười,
Dẫn đi hành tội, cho người thấy ghê,
Hành rồi hóa kiếp làm dê,
(Thiếu một đoạn)
Dạ Xoa vâng lịnh phăng phăng.
Ngục mười dẫn lại giao thằng Châu Phan.
Diêm vương phán trước ngai vàng:
Rằng: Người Trần Kỷ sao chàng đi tu?
Tiếng xưa cũng biết chữ nhu (nho),
Há không coi sách Xuân Thu dạy đời?
Ngoại di Trung quốc khác trời,
Phụ Nho, theo Phật, chuộng lời nam mô,
Mấy năm ở chốn Phù đồ,
Xưng rằng Hòa thượng, nói phô hoang đàng,
Của thời tam bảo ăn thường,
Ruộng thời sẵn có thập phương cúng dường.
Vả xưa Phật ở Tây phương.
Sống không biết lẽ cang thường là chi.
Luyện lòng hai chữ "từ bi",
Việc nhà việc nước, biết gì tới ai.
Làm người sao chẳng theo loài?
Thảo cha ngay chúa, đoái hoài chi đâu!
Đành lòng cắt hẳn tóc râu,
Đã toan bất tử, lại âu bất thần.
Tội kia đã đến muôn phần,
Khó dung cho đó làm thân con người.
Trước cho bầy rắn cắn tươi,
Rồi sau cho hóa kiếp người làm trâu.
Hành cho chín kiếp rất lâu,
Để ăn rơm cỏ, dãi dầu tấm thân.
Dạ Xoa lãnh nạp họ Trần,
Đem giao chúa ngục ở phần sông Diêm.
Có quân quỷ tốt liền đam,
Dẫn qua Tào án còn giam nửa giờ.
Dương Từ theo khóc bơ vơ,
Rằng nay Hòa thượng biết nhờ cậy ai!
Kỷ rằng: Ta hỏi Thiện Trai:
Cớ sao xuống chốn âm đài, chuyện chi?
Thưa rằng: Tầm dấu Mu ni
Ngỏ xin khỏi tiếng thị phi trên đời.
Kỷ rằng: Trốn lánh việc đời,
Đã đành lỗi đạo cùng trời đất kia.
Ngàn năm trong cõi thiền kia,
Lấy ta làm một tấm bia để đời.
Người về xin gởi vài lời,
Nói cùng tăng sãi các nơi chùa chiền.
Trở về theo đạo thánh hiền,
Lo bề nhà cửa, chớ nguyền đi tu.
Tu chi mắc kiếp làm trâu,
Lại xô xuống cầu, cho rắn phân thây.
(Thiếu 9 câu, thuật lời Châu Phan)
Đương phô quỷ sứ đánh ngang,
Dẫn tới ngục đàng, chịu phép khảo tra.
Châu Phan sùi sụt bước ra,
Họ Hà thấy vậy xót xa phận mình.
Tạo Y quỷ sứ có tình,
Đem qua các chốn ngục hình xem coi.
Bài đề hai chữ "Phong Lôi"
Ngục nầy để trị bầy tôi gian tà.
Hung thay quỷ tốt Dạ Xoa.
Bắt bầy tôi nịnh đem ra hành hình.
Tay chân đều có đóng đinh,
Nằm trên tấm thớt lõa hình trần phơi.
Người giăng nằm giữa ngó trời,
Người thời nằm sấp khắp nơi rẽ ròi.
Phút đâu một tiếng âm lôi,
Nổ ra sấm sét đánh bồi trên thây.
Trước sân lai láng máu đầy,
Tan xương nát thịt, cái bầy quân gian.
Coi tên: Đề thuở Hán Đàng (Đường).
Thập Thường Thị ấy với đoàn hoạn quan.
Hành rồi sái phép linh đan,
Thân hoàn hồn phách, lại hoàn ngục giam.
Cũng vì một tấm lòng tham,
Sâu dân mọt nước, đều làm chẳng công.
Làm tôi mang chữ bất trung,
Phép trong trời đất chẳng dung đứa nào.
Coi rồi cửa ấy tù lao,
Coi qua cửa khác những nào tội nhân.
Bài đề hai chữ "Hỏa Quân"
Ngục này trị kẻ vô luân, loạn thần.
Cột đồng cắm đứng trước sân,
Chế dầu lửa đốt rần rần như giông.
Lửa xe chói đỏ cột đồng,
Dạ Xoa dắt tới đàn ông một đàn.
Tay cầm roi sắt đánh, phang,
Khiến xông vào đó ôm ngang cột đồng.
Thịt xương chói đỏ theo đồng,
Khói bay tanh khét, như xông a ngùy.
Coi vào trong thẻ án ghi,
Họ tên lũ ấy một khi mới tường,
Thảy đều mắc tội hòa gian,
Vợ người đã lấy, còn toan giết chồng.
Coi rồi phía tả đàn ông,
Ngó qua phía hữu, rất đông đàn bà.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 17 →