🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]
Dòng Máu LạcCh.5 Vết Chim Trên Vai

────────────────────────────────────

*"Ghi chép ngoài lề, không rõ nguồn ◆"*

────────────────────────────────────

Nước giếng tháng ba lạnh hơn nước ao. Ánh Nga cúi xuống, hai tay bụm nước hắt lên mặt, và cái lạnh đi thẳng vào sau gáy.

"Cởi áo ra bà kỳ lưng cho."

"Cháu tự kỳ được."

"Tự kỳ thì lưng còn nguyên đất."

Nó tuột áo qua đầu, ngồi xổm, quay lưng lại. Bà dội một gáo, rồi vục tay vào rổ tro bếp trộn với xơ mướp.

Bà chà được ba đường thì dừng.

"Bà làm gì thế?"

Không có tiếng trả lời. Có tiếng gáo va vào thành chậu.

Ánh Nga ngoái đầu. Bà đang vén cái vạt tóc ướt trên vai trái nó sang một bên, và tay bà run, run đủ để nước trên đầu ngón tay nhỏ xuống liên tục thành từng giọt trên lưng con bé.

"Bà, buồn buồn."

"Ngồi im."

Trên bả vai trái, dưới xương đòn chừng hai đốt ngón tay, có một vết bớt nâu bằng đầu ngón chân cái. Vết ấy có một chỗ nhọn chìa ra như cái mỏ, một chỗ thắt lại như cái cổ, và một bên loe ra rồi cụt ngang, cụt như bị cắt bằng dao.

"Cái bớt của cháu ấy à," Ánh Nga nói. "Cháu có từ bé rồi. Thằng Cò bảo giống con nhái."

"Nó bảo giống con nhái."

"Vâng."

Bà buông vạt tóc xuống. Bà dội nốt gáo nước, rồi bảo nó mặc áo vào, rồi đi vào nhà trước khi nó kịp mặc xong.

*

Đêm ấy bà gọi nó vào buồng trong.

Bà thắp một cái đèn dầu lạc, để chỗ khuất, nên trong buồng chỉ đủ sáng để nhìn thấy hai bàn tay.

"Ngồi xuống."

Nó ngồi. Bà lộn trái vạt áo lót, cắn đứt mấy mũi chỉ, rồi lôi ra một vật, đặt xuống chiếu giữa hai người.

Ánh Nga chồm tới.

"Đừng cầm vội."

"Là cái gì hả bà?"

"Là đồng."

"Cháu biết là đồng. Nó là cái gì cơ?"

"Nó là một miếng của cái trống."

Con bé ngồi xuống lại. Nó nhìn xuống chiếu. Mặt trên của miếng đồng gợn lên những đường chìm, và trong đám đường ấy có một cái cổ dài, một cái mỏ dài, một bên cánh dang ra.

"Trống nào?"

"Bà không biết."

"Bà không biết thật à?"

"Bà không biết thật," bà nói. "Bà chỉ biết mẹ bà đưa cho bà, mẹ của mẹ bà đưa cho mẹ bà, và các cụ trước nữa thì bà không nhớ nổi một cái tên nào."

"Thế ai đập vỡ nó?"

"Bà không biết."

"Bà có hỏi mẹ bà không?"

"Có."

"Mẹ bà bảo sao?"

Bà im một lúc. Ngoài sân có tiếng chó sủa một tiếng rồi thôi.

"Mẹ bà bảo: đừng hỏi."

*

"Bây giờ cháu cầm được chưa?"

"Cầm đi."

Ánh Nga cầm lên. Nó nặng hơn nó trông, và mép dưới sắc, sắc thật, không phải sắc kiểu dao cùn.

"Nó cắt tay được đấy."

"Ừ. Cứa vào lòng bàn tay như chơi."

"Sao bà không mài cho cùn đi?"

"Vì nó không phải đồ chơi." Bà cầm cổ tay nó, xoay miếng đồng lại cho mặt có chim hướng lên. "Nghe bà nói đây. Con bé nào trong họ có cái vết trên vai như mày thì miếng này về tay con bé ấy. Không phải vì nó ngoan. Không phải vì nó được quý hơn. Chỉ là thế thôi."

"Sao lại thế thôi?"

"Bà không biết."

"Bà cứ bảo bà không biết."

"Vì bà không biết thật." Bà thả cổ tay nó ra. "Nhưng có cái này bà biết. Nhà nào giữ nó thì đừng có dây vào chuyện lớn. Đừng ra chỗ đông. Đừng hát nó ở chỗ có người lạ. Có quan về thì cúi đầu, nộp đủ, đừng cãi nửa câu. Giấu nó đi, sống cho hết đời, rồi đưa cho đứa sau. Có thế thôi."

"Nhưng nếu..."

"Không có nếu." Bà nói câu ấy nhanh hơn tất cả những câu trước. "Đứa nào trong họ mà đem nó ra chỗ đông thì đứa ấy chết trước, còn cả nhà chết theo sau. Bà nói thế cho gọn."

"Ai chết ạ?"

Bà cầm cái đèn dầu, xoay bấc nhỏ lại một chút, và trong buồng tối thêm.

"Muộn rồi. Đi ngủ."

*

Mẹ nó đứng ở cửa buồng từ lúc nào không rõ.

"Mẹ nói với nó rồi đấy à."

"Nói rồi."

"Con bảo mẹ đừng nói vội."

"Nó có cái vết ấy thì bảo đừng nói đến bao giờ?" Bà đặt đèn xuống. "Chị đợi đến lúc nó lấy chồng à? Đến lúc ấy thì nó có cả nhà chồng để mà giấu."

Mẹ nó bước vào, ngồi xuống mép chiếu, và mãi mới nói tiếp.

"Con vẫn nghĩ mang nó ra sông thì xong."

"Chị thử đi."

"Con thử rồi."

Bà quay hẳn người lại. "Bao giờ?"

"Năm con đẻ con Nga. Con ra bến, cầm trong tay, đứng đấy từ sáng đến trưa."

"Rồi sao?"

"Rồi con mang về."

"Vì sao?"

"Con không biết." Mẹ nó nhìn xuống hai bàn tay mình. "Con đứng đấy nghĩ mãi. Nghĩ rằng nếu vứt xuống thì từ mai mình nhẹ. Rồi con nghĩ nếu mình nhẹ thì cái gánh ấy nó đi đâu. Nó có tự tan ra không, hay là nó rơi xuống người khác."

"Người nào?"

"Con không biết," mẹ nó nói lần nữa.

Ánh Nga ngồi giữa hai người, miếng đồng vẫn trong tay, mép sắc áp vào chỗ chai dưới ngón cái, chỗ chai vì tước lạt.

"Cháu giữ cũng được," nó nói.

Hai người đàn bà cùng quay sang nó.

"Mày biết mày vừa nói gì không?" bà hỏi.

"Cháu bảo cháu giữ cũng được."

"Giữ là giữ suốt đời. Giữ là đến lúc chết mới đưa cho đứa khác."

"Vâng."

"Mày mới có bảy tuổi."

"Vâng."

Con bé đặt miếng đồng xuống chiếu, đẩy về phía bà, rồi đứng dậy đi ra. Ở cửa buồng nó dừng lại.

"Bà ơi."

"Gì?"

"Cái chỗ cánh chim bị cụt ấy. Nửa kia đi đâu?"

Bà không trả lời.

Ngoài kia gió tháng ba đi qua mái tranh. Có tiếng những bông hoa nặng rơi xuống, từng bông một, cách quãng đều nhau, rơi thẳng đứng và không xoay.

━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━

**CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 5**

† **Tro bếp trộn xơ mướp** dùng thay xà phòng là cách tắm giặt phổ biến trong đời sống nông thôn Việt Nam trước khi có xà phòng công nghiệp; tro chứa kiềm nên có tác dụng tẩy.

† **Đèn dầu lạc** (dầu ép từ đậu phộng) là nguồn chiếu sáng dân gian lâu đời ở đồng bằng Bắc Bộ.

‡ **Hình chim trên trống đồng Đông Sơn** thường được gọi là "chim Lạc" trong cách hiểu phổ thông. Cần lưu ý đây là tên gọi do giới nghiên cứu và truyền thông thế kỷ 20 phổ biến, gắn với chữ "Lạc" trong "Lạc Việt"; các nhà khảo cổ mô tả trung tính hơn là "chim mỏ dài" hoặc "chim nước". Truyện dùng cách gọi phổ thông vì giá trị văn hóa, không khẳng định đó là tên gốc thời Đông Sơn.

◆ **Vết bớt hình chim trên bả vai** và toàn bộ tục truyền mảnh trống theo vết bớt là hư cấu văn học, nền tảng cho cơ chế của tác phẩm.

━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━

Hết Chương 5

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 6
← TrướcTiếp →