Anh Đông trước khi mở quán từng là công nhân cơ khí, dành dụm gần chục năm mới đủ vốn nghỉ việc ra làm ăn riêng, mơ ước có một quán nhậu bình dân của riêng mình, nơi anh có thể vừa nấu nướng vừa trò chuyện rôm rả với khách mỗi tối, không còn phải chấm công theo ca kíp gò bó như hồi còn làm xưởng. Anh mở quán ở một con hẻm nhỏ gần khu công nghiệp, vốn liếng dồn hết vào tiền thuê mặt bằng và sắm sửa bàn ghế, nhưng ba tháng đầu buôn bán ế ẩm thấy rõ, khách lai rai vài bàn mỗi tối, không đủ bù tiền điện nước.
Vợ anh Đông không giấu được lo lắng, nhiều đêm hai vợ chồng ngồi tính sổ sách tới khuya, thấy số tiền lỗ cứ tăng dần từng tháng mà chưa biết tính sao. Có người khuyên anh nên đổi món, có người khuyên nên hạ giá cạnh tranh, anh thử đủ cách vẫn không cải thiện được bao nhiêu, quán vẫn vắng hoe những tối trong tuần, chỉ đông hơn chút vào cuối tuần nhờ vài khách quen từ hồi còn làm cơ khí ghé ủng hộ. Anh sốt ruột, nghe một người bạn hàng xóm mách nước, bảo mở quán ăn uống mà không cúng cô hồn thì khó mà đông khách, vì quán xá là chỗ ăn uống thừa mứa, hồn vía lang thang hay tụ về những nơi như vậy, cúng cho phải phép thì mới được yên ổn làm ăn.
Anh Đông vốn không mê tín lắm, nhưng cùng đường thì thử làm theo, mỗi tối trước khi dọn hàng anh bày một mâm nhỏ ra trước cửa quán, gồm mấy món cháo trắng, bánh kẹo, trái cây, thắp nhang khấn vái qua loa vài câu học lỏm được. Vài tuần đầu chẳng thấy có gì khác biệt, quán vẫn ế như cũ, anh bắt đầu nản, định thôi không cúng nữa vì thấy tốn kém thêm mà chẳng ăn thua.
Một đêm mưa lớn, gần tới giờ dọn hàng, anh thấy một ông cụ vô gia cư đứng nép dưới mái hiên quán tránh mưa, nhìn mâm đồ ăn thừa của khách để lại trên mấy cái bàn chưa kịp dọn với ánh mắt thèm thuồng nhưng không dám xin. Anh Đông chột dạ, gói ghém lại chỗ đồ ăn còn sạch sẽ, đưa cho ông cụ ăn tạm, còn dặn ông cứ ghé quán buổi tối nào đói thì anh sẽ để dành phần cho.
Từ hôm đó, thay vì bày mâm cúng cô hồn trước cửa như trước, anh Đông chuyển hẳn sang gom lại đồ ăn còn dùng được mỗi tối, để dành cho những người vô gia cư hay lang thang qua khu này, có hôm là ông cụ hôm trước, có hôm là vài đứa trẻ bán vé số ế hàng, có hôm là một bà cụ nhặt ve chai muộn. Anh còn dặn nhân viên trong quán, thấy khách bỏ dở món nào còn sạch sẽ thì đừng đổ vội, gói lại cẩn thận để riêng ra một góc, coi đó như phần việc bắt buộc mỗi tối trước khi đóng cửa, không còn là chuyện làm cho có nữa. Anh không nghĩ nhiều, chỉ thấy làm vậy thiết thực hơn nhiều so với việc cúng một mâm đồ để nguyên si tới sáng rồi đổ bỏ.
Ông cụ vô gia cư hôm mưa lớn ấy, sau này anh Đông mới biết tên là ông Sang, từng có gia đình nhưng con cái đều đã mất liên lạc từ lâu, ông sống lang thang quanh khu công nghiệp đã nhiều năm, tối tối kiếm chỗ trú tạm dưới các mái hiên. Từ hôm được anh Đông cho ăn, ông Sang trở thành khách quen bất đắc dĩ của quán, tối nào cũng ghé đúng giờ đóng cửa để nhận phần ăn để dành, đôi khi còn đứng nán lại phụ quét dọn sân trước như một cách trả ơn.
Lạ thay, từ khi anh đổi cách làm, quán bắt đầu đông khách dần lên thấy rõ. Ban đầu chỉ vài khách quen tới ăn ủng hộ, sau đó truyền tai nhau đông dần, có người nói quán anh Đông nấu ngon, có người bảo không khí quán ấm cúng dễ chịu, cũng có người tình cờ biết chuyện anh hay cho người nghèo ăn nên thấy có cảm tình, ghé ủng hộ thường xuyên hơn. Chỉ nửa năm sau, quán từ chỗ ế ẩm đã trở thành điểm nhậu quen thuộc của cả khu công nghiệp, tối nào cũng kín bàn.
Có người bạn cũ ghé chơi, hỏi anh Đông có còn giữ thói quen cúng cô hồn cầu tài như dạo trước không, anh cười, bảo lâu rồi không cúng mâm nào nữa, chỉ còn giữ thói quen để dành đồ ăn thừa cho mấy cô bác vô gia cư quanh xóm, coi như một cách "cúng" theo kiểu riêng của mình. Người bạn nghe xong tặc lưỡi, bảo có khi chính vì vậy mà quán mới đắt khách, thứ "cô hồn" thật sự cần không phải nhang khói, mà là một bữa ăn no bụng, còn cái phần cầu tài kia chẳng qua chỉ là con người tự nghĩ ra để yên tâm.
Anh Đông không dám khẳng định đâu là nguyên nhân thật sự khiến quán mình đắt khách, chỉ biết mỗi tối dọn hàng xong, nhìn mấy phần đồ ăn được gói cẩn thận chờ người tới nhận, anh thấy lòng nhẹ nhõm hơn hẳn so với cảm giác khấn vái trước một mâm cúng vô hồn trước cửa quán ngày trước. Vợ anh cũng dần thôi lo lắng chuyện sổ sách, giờ mỗi tối còn tự tay chuẩn bị thêm phần cơm cho mấy đứa trẻ bán vé số hay ghé qua, coi đó như một phần không thể thiếu trong công việc buôn bán hằng ngày của cả nhà.
Lời bàn: Ông cụ vô gia cư hôm mưa lớn năm đó vẫn còn ghé quán anh Đông đều đặn, giờ đã quen mặt hết cả nhân viên trong quán, có hôm còn phụ dọn bàn giúp coi như đáp lễ. Người ta hay tin vào những mâm cúng bày biện cầu kỳ để mong đổi lấy vận may, mà quên mất rằng đôi khi thứ thật sự mang lại may mắn chỉ đơn giản là một bàn tay chìa ra đúng lúc ai đó đang cần.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 22 →