Thục Phán sinh ra ở phía bắc, trong vùng núi của người Âu Việt, cái giống người sống dựa vào đá, quen cái lạnh của sương nguồn, quen đi trên những con đường mà một bên là vách, một bên là vực. Người vùng núi ít nói, bền chí, và tin nhau bằng lời hơn bằng giấy, bởi ở chỗ đá dựng ấy, một lời hứa bội ước thì cả bản đều biết, mà cả bản biết thì kẻ bội ước không còn chỗ dung thân. Thục Phán lớn lên trong cái nếp ấy, cái nếp coi chữ tín nặng hơn tính mạng. Về sau, chính cái nếp quý giá ấy sẽ thành chỗ yếu chí mạng của ông, bởi kẻ quen tin lời người thì khó ngờ được rằng trên đời có những kẻ nói lời mà không hề định giữ.
Nhưng đó là chuyện về sau. Buổi ấy, Thục Phán còn trẻ, và cái cõi ông sinh ra đang tan.
Nhà Hùng đã mạt. Người đời sau chép rằng Hùng Vương thứ mười tám ham vui, bỏ bê việc nước, để nước suy. Chép thế thì gọn, nhưng chưa tới. Bởi cái làm nhà Hùng mạt không phải một ông vua lười. Nghìn năm một dòng họ, ông vua nào mà chẳng có kẻ hay kẻ dở. Cái làm nhà Hùng mạt là một thứ sâu hơn, âm thầm hơn, một thứ mà người trong cuộc không nhìn thấy, chỉ thấy hậu quả của nó.
Ấy là lòng người rời ra.
Các Lạc hầu, Lạc tướng, xưa cùng nhau giữ cõi dưới một cây nêu, một tiếng trống, thì nay mỗi người giữ lấy một khoảnh, ngờ vực nhau, tranh nhau từng khúc sông, từng cánh đồng. Cái tục dựng nêu mỗi Tết, cái tục đánh trống gọi nhau khi có việc, thưa dần, rồi lạt dần, rồi thành hình thức. Người ta vẫn làm, nhưng làm lấy lệ, như một kẻ tụng một câu kinh đã quên hết nghĩa. Và mỗi mùa cái lòng đồng ấy lạt đi một chút, thì ở đâu đó, một sợi chỉ vô hình giữ cho cả cõi này liền lạc lại đứt thêm một sợi.
Người đời không biết vì sao lòng mình lạt. Họ chỉ thấy mình bận hơn, tham hơn, ngờ nhau hơn, mà không hiểu tại sao. Chỉ một dúm rất ít người, những kẻ còn giữ được chút hiểu biết của thời xưa, mới biết rằng cái lạt lòng ấy không tự nhiên mà có. Nó được gieo. Dưới đáy Biển Hư ngoài khơi, cái Kẻ Có Trước Đất, kẻ bị tổ tiên nhốt xuống đó tự thượng cổ, vẫn ngày đêm thổi vào lòng người cái muốn hơn, cái ngờ vực, cái quên. Nó không đánh cõi này bằng gươm, bởi gươm thì tổ tiên đã có phong ấn chặn. Nó đánh bằng cách làm cho người ta thôi thương nhau. Một dân tộc mà mỗi người chỉ còn biết giữ lấy khoảnh của mình, thì tự nó đã thua, chẳng cần ai tới đánh.
Và cái trống gốc, cái trống gọi nhau về, thì đã thất lạc rồi. Không còn cái tiếng nào đủ lớn để gọi những tấm lòng đang rời ra ấy chụm lại. Nhà Hùng tàn, không phải vì một trận thua, mà vì một dân tộc quên mất cách gọi nhau.
Thục Phán nhìn cái cảnh ấy từ vùng núi phía bắc, và trong lòng ông dấy lên một điều mà chính ông cũng chưa gọi được thành tên. Không phải tham vọng làm vua, buổi ấy ông chưa nghĩ tới. Mà là một nỗi xót. Ông thấy một cõi từng lớn đang vỡ ra như một cái bình rơi xuống đá, và ông không chịu được cái cảnh đứng nhìn nó vỡ.
Ông bắt đầu đi. Đi khắp các bản Âu Việt, rồi xuống các vùng Lạc Việt, nói với các tù trưởng, các Lạc tướng, cái điều đơn giản mà cả cõi đã quên: rằng chia ra thì ai cũng yếu, chụm lại thì mới mạnh; rằng cái giặc thật không phải ông tướng ở khoảnh bên cạnh, mà là cái gì đó đang làm cho tất cả cùng nghèo đi, cùng sợ đi, cùng quên đi. Ông nói cái điều ấy bằng cái chân thật của người vùng núi, không mưu mẹo, không hứa hão, và lạ thay, người ta nghe. Không phải vì ông nói hay, ông nói vụng là khác. Mà vì cái điều ông nói, sâu trong lòng, ai cũng biết là đúng, chỉ là đã lâu không ai nói ra.
Gom được người này, ông đi gom người kia. Chỗ nào không nghe, ông không đánh vội, ông kiên nhẫn thuyết. Chỗ nào có kẻ ngoan cố cậy mạnh, ông mới dùng binh, mà dùng binh xong lại đối đãi tử tế, không tận diệt, để kẻ thua vẫn còn đường thành người một nhà. Mấy năm ròng, người Âu Việt và người Lạc Việt, hai giống vốn cùng một gốc xa xưa mà đã lâu coi nhau như hai nước, dần dần, dưới tay Thục Phán, chụm lại thành một.
Và tới một ngày, cái cõi vỡ ấy đã được gom gần đủ. Thục Phán đứng giữa các tù trưởng, các Lạc tướng vừa quy về một mối, hợp hai chữ Âu và Lạc lại, đặt tên nước là Âu Lạc. Ông xưng vương. Người đời sau gọi ông bằng cái tên ông chọn lúc ấy: An Dương Vương.
Đêm hôm xưng vương, giữa tiếng reo mừng của muôn dân vừa thôi loạn, An Dương Vương đứng một mình nhìn ra cõi nước vừa liền lại, và trong lòng ông, cái nỗi xót năm xưa đã đổi thành một nỗi lo. Bởi ông vừa hiểu ra một điều mà cả buổi gom cõi chưa cho ông thấy hết: rằng gom một cõi vỡ lại với nhau, hóa ra, là việc dễ. Cái khó, cái khó gấp trăm lần, là giữ cho nó đừng vỡ lần nữa.
Ông đã gom được người bằng lời. Nhưng lời thì gió bay. Cái lòng đồng ông vừa khơi lại, ông biết, mong manh lắm. Chỉ cần một mùa lạt đi, một kẻ gieo ngờ vực, là nó lại rời ra như cũ. Nhà Hùng nghìn năm còn vỡ được, thì cái nước Âu Lạc non trẻ này, dựng bằng mấy năm thuyết phục, giữ được bao lâu?
Muốn giữ, ông nghĩ, phải có cái gì đó bền hơn lời. Phải có một cái mốc cho cả cõi tựa vào, một cái nền để cái lòng đồng ấy ăn rễ xuống, đừng để nó chỉ nổi trên miệng người như một câu chuyện kể. Ông chưa biết cái mốc ấy là gì. Nhưng ông biết mình phải tìm cho ra, bằng không, cái nước ông vừa dựng sẽ chỉ là một nhà Hùng thứ hai, huy hoàng một thuở rồi lại tan.
Ông đâu ngờ rằng cái mốc ông đang tìm, ông sẽ dựng được, và nó sẽ là một tòa thành hình xoáy ốc, một cái trống, một cây nỏ. Cũng đâu ngờ rằng cái kẻ dưới đáy Biển Hư, kẻ đã gieo lạt lòng làm mạt nhà Hùng, đang từ đáy sâu của nó nhìn lên cái nước non trẻ vừa dựng, và bắt đầu tính một ván cờ mới.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →